Thứ Hai, 10 tháng 8, 2015
Món canh gà đãi khách
http://phunu.nld.com.vn/an/nho-mai-mon-canh-ga-dai-khach-20150805230436205.htm
Thứ Ba, 4 tháng 8, 2015
Thơm ngào ngạt canh đậu xanh mắm tôm nêm lá tía tô
http://phunu.nld.com.vn/an/thom-ngao-ngat-canh-dau-xanh-mam-tom-nem-la-tia-to-2015072715003111.htm
BÀI DỰ THI BÍ TRUYỀN CỦA MẸ
Thơm ngào ngạt canh đậu xanh mắm tôm nêm lá tía tô
27 Tháng 07, 2015 | 15:09
(CPN) - Xa quê hương đã 45 năm nhưng tôi không thể nào quên hương vị ngọt ngào bát canh đậu xanh lá tía tô của mẹ trong mỗi bữa cơm mùa nắng nóng.
Tôi sinh ra ở một vùng quê Hà Tĩnh. Ngày xưa quê tôi nghèo lắm. Cha mẹ tôi sinh 9 người con, lại sống ở một vùng đất thời tiết khắc nghiệt, trời chưa nắng đã khô, trời chưa mưa đã ngập nên đời sống đã khó khăn lại càng thêm lận đận. Hồi đó, quê tôi chủ yếu sống bằng sản phẩm nông nghiệp tự cung tự cấp nên việc chợ búa của mẹ hầu như rất ít.
Bữa cơm của gia đình lúc nào cũng đông đủ 9 anh chị em. Thức ăn chính là nồi canh đậu xanh bó rau tía tô và một đĩa cà pháo giòn tan mẹ muối.
Bát canh đậu xanh nấu với tía tô, mắm tôm theo công thức của mẹ tôi
Mỗi lần nấu cơm, mẹ lấy 1/3 lon đậu xanh nhà trồng được, một cái mẹt và một cái chai rồi ngồi cà đậu. Đậu xanh được cà vỡ đôi, vỡ ba đem ngâm với nước cho nở ra rồi đãi bớt vỏ và sạn.
Trong khi ngâm đậu, mẹ ra vườn hái một nắm lá tía tô rửa sạch và thái nhỏ. Ở quê tôi, tía tô mọc ở khắp nơi và cây nào cũng tươi tốt, sum suê. Sau khi nồi cơm cạn, mẹ vùi tro cạnh bếp và cho nồi canh lên.
Mẹ phi hành tăm với mỡ thơm phức rồi đổ vừa nước, đậu xanh, nửa thìa mắm tôm vào và hãm nhỏ lửa hầm cho tới khi đậu nhừ.
Trước khi bắc canh xuống, mẹ nêm muối, mì chính cho vừa ăn rồi cho lá tía tô thái nhỏ vào. Bụng đang đói mà hít phải mùi thơm của canh đậu xanh xen mùi lá tía tô kèm phảng phất mùi mắm tôm ngòn ngọt thì không ai có thể không nuốt nước miếng vì thèm.
Mỗi lần đi học hay đi chăn trâu về tôi lại chạy xộc vào bếp, mở cái vung nồi canh mẹ đang bắc trên bếp hít hít mấy cái cho đã. Mẹ nhìn tôi với cái nhìn trìu mến và hình như mẹ tôi lại rơm rớm nước mắt.
Bữa cơm được dọn ra với bát canh bốc khói, đĩa cà pháo trắng muốt, giòn rụm. Một bữa cơm thật giản đơn, đạm bạc mà ấm áp tình phụ mẫu, tình anh em ruột thịt đã theo tôi suốt cả cuộc đời.
Bữa cơm đầm ấm của gia đình tôi
Bây giờ tôi đã ngoài sáu mươi, không còn mẹ còn cha và không đủ đầy 9 anh chị em như ngày xưa nhưng cứ mỗi chuyến về thăm quê, các cháu tôi lại cà đậu, hái tía tô và nấu canh đậu theo lời kể của tôi để đãi tôi. Bát canh đậu, miếng cà pháo quê nhà nhưng gợi lại cho tôi thật nhiều kỷ niệm của tuổi thơ nghèo khó mà êm đềm để lòng luôn trĩu nặng tình yêu mến quê hương – nơi chôn nhau cắt rốn của mình.
Thứ Bảy, 25 tháng 7, 2015
Lời MẸ
Lời MẸ
Giờ này con ở đâuMãi chưa về với mẹ?Tuổi già đâu có dễSống mãi để chờ con.
Mẹ van lạy núi nonMẹ cầu xin sông suốiMột thân già đánh đổiĐể cho con trở về.
Con thấu nỗi tái têCủa thân già mòn mỏiMong con quên cả đóiNgóng con lẫn cả già.
Mẹ quên cả phong ba
Mẹ chẳng nề vất vả
Con ơi đừng hóa đá
Trong trái tim mỏi mòn.
Viết cho ngày Thương binh - Liệt sĩ 27/7
Thứ Ba, 21 tháng 7, 2015
Ngàn sâu và nỗi nhớ
Ngàn Sâu và nỗi nhớ
Con ước trở về tìm lại dấu chân cha
Tìm giọt mồ hôi những năm dài của mẹ
Nếm vị chát đọi nước chè xanh
và vị chua của khế
Thăm lại gốc bàng kỷ niệm thuở yêu xa.
Con ước được khua mái chèo trên bến nước sông La
Trở lại lán xưa học dưới làn đạn pháo
Nhấm nháp sắn khoai để nhớ ngày rau cháo
Cười hồn nhiên như đứa trẻ chăn trâu …
Tìm giọt mồ hôi những năm dài của mẹ
Nếm vị chát đọi nước chè xanh
và vị chua của khế
Thăm lại gốc bàng kỷ niệm thuở yêu xa.
Con ước được khua mái chèo trên bến nước sông La
Trở lại lán xưa học dưới làn đạn pháo
Nhấm nháp sắn khoai để nhớ ngày rau cháo
Cười hồn nhiên như đứa trẻ chăn trâu …
Dấu chân cha tôi tìm có thấy đâu!
Mồ hôi mẹ đã thấm vào lòng đất.
Con đò ngang được thay bằng cầu bê tông cốt sắt.
Chẳng còn lại gốc bàng, chẳng thấy trẻ chăn trâu.
Đêm Giáng sinh nhớ nơi ấy Ngàn Sâu,
Trời lạnh lắm thương bạn bè xưa cũ
Rơm rạ dành cho trâu đêm rúc vào để ngủ
Sáng dậy đến trường cọng rơm vẫn còn vương.
Mấy chục năm rồi xa Đức lạc quê hương
mà dấu chân cha vẫn in vào nỗi nhớ
Mồ hôi mẹ thấm vào con muôn thuở
Như Ngàn sâu nổi sóng xoáy vào tim.
Con đò ngang xưa con vẫn mãi đi tìm
Chở kỷ niệm xôn xao về quê mẹ
Dẫu tóc bạc niềm yêu thương vẫn thế
Vẫn đong đầy như nghĩa mẹ tình cha.
12/2014
Mồ hôi mẹ đã thấm vào lòng đất.
Con đò ngang được thay bằng cầu bê tông cốt sắt.
Chẳng còn lại gốc bàng, chẳng thấy trẻ chăn trâu.
Đêm Giáng sinh nhớ nơi ấy Ngàn Sâu,
Trời lạnh lắm thương bạn bè xưa cũ
Rơm rạ dành cho trâu đêm rúc vào để ngủ
Sáng dậy đến trường cọng rơm vẫn còn vương.
Mấy chục năm rồi xa Đức lạc quê hương
mà dấu chân cha vẫn in vào nỗi nhớ
Mồ hôi mẹ thấm vào con muôn thuở
Như Ngàn sâu nổi sóng xoáy vào tim.
Con đò ngang xưa con vẫn mãi đi tìm
Chở kỷ niệm xôn xao về quê mẹ
Dẫu tóc bạc niềm yêu thương vẫn thế
Vẫn đong đầy như nghĩa mẹ tình cha.
12/2014
VỀ THĂM ĐỒNG LỘC
Về thăm Đồng lộc
Kỷ niệm ngày TNXP 15/7 và ngày Thương binh liệt sĩ 27/7, tôi có mấy lời tri ân các chị.
Về thăm Đồng lộc
Tháng Bảy quê mình,
rộn khúc hát đò đưa.
tôi lại về thăm Ngã Ba xưa
Ngã Ba Đồng lộc.
Lòng dặn lòng,
mình ơi, không được khóc.
Khi cúi mình trước mười nấm mộ thân thương.
Nhói lòng tôi khi vang những hồi chuông.
Tiếng chuông Đồng lộc.
lệ tôi trào khóe mắt.
dẫu biết rằng nén lòng không khóc.
Hương bồ kết tỏa thơm từng mái tóc.
của các chị nằm kia,
và môi vẫn mỉm cười.
Gió rung bạch đàn nhè nhẹ trước mắt tôi.
Trên những nẻo đường ngang dọc,
ngược xuôi.
từ Linh cảm đến Kỳ anh,
từ Rú Nài ngược về Bến thủy.
Hà tĩnh quê tôi những năm đánh Mỹ
Bom tính trên đầu người
hàng tấn nổ inh tai.
Miền Bắc-miền
từng gánh nặng hai vai.
Nuôi con lớn động viên con nhập ngũ.
Manh áo tơi đã vượt qua bão lũ.
Con gái trưởng thành
vào tuyến lửa thông xe.
Chẳng áo ấm mùa Đông,
không nước tắm mùa Hè.
Bom nổ đến đâu,
có con mình ở đó.
Đồng lộc quê cha,
nơi đây là cửa ngõ.
Nơi quân đi rầm rập suốt ngày đêm.
Xe, pháo nối nhau, đường đất đỏ êm êm.
Không thấy mặt,
tiếng cười vang đồi núi.
Mồ hôi chảy, mặt chị em lấm bụi.
Các chị cười trắng muốt những hàm răng.
Đồng lộc Tháng Ba tôi lại trở về thăm.
Ngày Phụ nữ, bó hoa hồng tặng chị.
Những nấm mộ, lặng yên
và bình dị.
Tôi nhẹ nhàng
dâng các chị nén nhang.
Mười chị gái quê tôi
dũng cảm, hiên ngang
Chúc các chị
chốn vĩnh hằng yên nghỉ.
Tình cảm quê hương
vẫn vẹn tròn chung thủy.
Trong suốt, ngọt ngào
như dòng nước sông
Như điệu ví giận thương
của Hà tĩnh quê ta.
Ru chị ngủ,
lời ru tình phụ tử.
Ru những người bất tử, đã ra đi.
07/3/2013
Lãng đãng chiều cuối năm
Lãng đãng chiều cuối năm
Chiều cuối Đông, trời trải nắng vàng và ấm áp. Anh
nhìn lên tờ lịch treo tường. Hôm nay đã là ngày cuối năm. Mùa Xuân sắp về
rồi!
Cũng ngày này năm ấy, anh và em nhét vội mấy ki lô
gam tem gạo và phiếu mua thực phẩm vào túi để nhảy lên xe buýt ra ga xếp hàng
mua vé về quê. Trời lạnh mà hai đứa mình chỉ mặc mỗi chiếc áo mong manh.
Có em bên cạnh, anh chẳng bao giờ cảm thấy lạnh. Đã thế, chiếc xe buýt cũ kỹ
oằn mình chở toàn sinh viên không còn chỗ để lèn chân. Nét mặt đứa nào cũng
tươi rói, hăm hở như sắp về đến nhà mình vậy.
Anh và em đứng xếp hàng từ bốn giờ chiều đến mười hai
giờ đêm mới mua được vé. Trời về đêm rét run người. Anh choàng thêm chiếc áo
bông cổ lông kiểu Tôn Trung Sơn của bố cho khi anh vào trường. Em bỏ hai tay
vào túi áo. Anh nắm hai bàn tay thon nhỏ của em trong túi áo anh ấm áp lạ
lùng. Đêm ấy không có tàu về Vinh. Anh cùng em và lũ sinh viên cứ ngồi trước
mái hiên nhà ga chờ đợi. Những câu chuyện cứ nhỏ dần , nhỏ dần rồi im lặng và
tiếng xuýt xoa vì lạnh cũng biết mất và chìm vào giấc ngủ chập chờn.
Em xuống ga dọc đường, còn anh thì xuống ga
cuối cùng. Chúng mình chia tay nhau vội vã. Em móc túi đưa tất cả tem gạo và
phiếu thực phẩm của em cho anh và bảo gửi về biếu bố mẹ anh vì hai cụ đã
già không còn làm ruộng. Anh cảm động rơi nước mắt.
Năm ấy, nhà anh đón tết to hơn mọi năm.
Còn ba ngày nữa mới hết phép. Anh lấy vé
tàu về nhà em. Cái tết đầu tiên anh đến nhà bạn gái vừa hồi hộp, vừa bâng
khuâng với cảm giác kỳ lạ, khó tả. Gia đình em đón anh như đón đứa con xa nhà
trở về. Anh cảm thấy ấm áp vô cùng trong cái lạnh đầu xuân năm ấy. Hôm trở lại
trường, bố em còn may tặng anh chiếc mũ bông may theo kiểu mũ của Hồng quân
Trung Quốc. Anh cám ơn em và bố em nhiều lắm...
Rồi một ngày cuối Đông, hai đứa mình lặng lẽ
xách hai chiếc hòm gỗ đựng áo quần, chăn mền vào Nam nhận công tác – nơi một thời
anh cùng đồng đội của mình đã chiến đấu giành giật từng tấc đất với kẻ thù.
Rồi chúng mình thành vợ thành
chồng.
Thời gia trôi đi thật nhanh. Mới đó mà đến nay đã 30 năm. Ba
mươi năm cho một gia đình bé nhỏ. Ba mươi năm cho sự trưởng thành.
Em thân yêu,
Một năm nữa qua đi, mùa Xuân mới lại về. Anh và em
cùng tất cả mọi người trên trái đất này lại thêm một tuổi. Mái tóc xanh
dài của em năm nào lại thêm sợi bạc.Còn anh đã bước sang tuổi sáu mươi tư
– tuổi của hoài niệm. Những nỗi buồn vì thiệt hại do lũ lụt gây ra cho quê mình
đã nguôi ngoai nhưng khốn khó vẫn còn phía trước. Những em bé nơi rốn lũ
đã có thêm áo mới, sách mới và đã tung tăng trở lại trường học. Mẹ già quê mình
không còn đói và rét vì cả nước đang dồn tất cả tình yêu thương về nơi
ấy.
Ước gì được trở lại tuổi thanh xuân để chiều
nay anh và em sẽ bước lên chuyến tàu tốc hành mang theo chút nắng của Duyên
hải miền Trung về với quê mình. Chút nắng vàng sẽ sưởi ấm cho bao em bé và cụ
già những ngày cuối Đông. Chút hơi ấm của những đứa con xa là món quà vô
giá gửi tặng quê nhà em nhỉ.
Chút nắng vàng của duyên hải miền Trung sẽ tô thắm sắc hoa đào miền Bắc và đẩy lùi cái lạnh mùa Đông trên quê mẹ thân thương. Năm Tân Mão sẽ là năm ấm áp và rực rỡ sắc hoa trên đất nước của chúng ta. Xuân Tân Mão- Xuân của hoa chiến thắng - Xuân của ý Đảng lòng dân – Xuân của niềm tin và hy vọng.
Chút nắng vàng của duyên hải miền Trung sẽ tô thắm sắc hoa đào miền Bắc và đẩy lùi cái lạnh mùa Đông trên quê mẹ thân thương. Năm Tân Mão sẽ là năm ấm áp và rực rỡ sắc hoa trên đất nước của chúng ta. Xuân Tân Mão- Xuân của hoa chiến thắng - Xuân của ý Đảng lòng dân – Xuân của niềm tin và hy vọng.
Góc quê ngày ấy
Góc quê ngày ấy
Thấm thoắt 40 năm xa quê – Bốn mươi
năm bộn bề khắc khoải .
Một góc quê nghèo cứ theo mãi với
thời gian và nó đã in sâu vào ký ức . Qua năm tháng , qua nắng mưa giông bão và
qua những lần cái chết kề bên mà cái góc quê ngày ấy cứ bám chặt lấy lòng mình
.
Cái góc quê ấy, ngày nào hai đứa
yêu nhau . Một tình yêu trẻ con , ngây thơ mà trong trắng . Yêu nhau mà chưa
nói lời yêu . Hai đứa chỉ đọc được chữ YÊU trong mắt nhau . Rồi cảm , rồi
thương , rồi nhớ , rồi giận hờn rồi lại mến nhau hơn .
Hai đứa cảm nhận hơi thở của nhau
qua từng trang sách rách nát , úa vàng . Góc quê ngày ấy nghèo xác nghèo xơ
tiền đâu mua sách và biết mua ở đâu bây giờ . Chỉ là những cuốn sách cũ kỹ của
nhiều thế hệ chuyền tay nhau .
... và lớn lên một chút . Khi biết
cảm nhận được tình yêu của nhau cũng là lúc hai đứa phải xa nhau .
Cái góc quê nghèo ngày ấy thật buồn
nhìn hai đứa chia tay . Người con gái ấy không dám đến gần và không dám cầm tay
lúc tiễn mình lên đường vào chiến trường . Bức thư tỏ tình thấm đẫm nước mắt
được gập vào trong trang sách và chỉ được mở ra lúc mình đã đi xa . Cái góc quê
nghèo ngày ấy lần đầu tiên nhìn thấy người con gái mười sáu tuổi òa khóc nấc nở
khi giở trang thư còn thấm nước mắt người đi ! Người ấy đã khóc thật nhiều ... Những người già ở cái góc
quê ấy đã dỗ dành và an ủi và cũng không thể nào cầm được nước mắt vì cảm động
.
Bốn mươi năm rồi , nhớ lại góc quê
ngày ấy , mình chợt thương , chợt giận và thoáng buồn . Vì năm năm sau ngày ấy
, góc quê nghèo chạnh lòng thương cảm một người lính trở về không kẻ đón .
Rồi những câu thơ viết ở góc quê
ngày ấy cứ theo riết , theo riết người đi :
" Ngày về bên xóm vắng
Giọt nắng chiều ngẩn ngơ
Con
bướm nhỏ vu vơ
Tiếng
ve sầu réo rắc
Cây bàng xưa héo hắt
Lác
đác lá vàng bay
Tiếng trẻ khóc đâu đây ...
Ngày về không kẻ đón ! "
Thứ Hai, 20 tháng 7, 2015
Anh tôi 3
Anh tôi
Chiến tranh biên giới phía bắc do Trung quốc phát động bất ngờ ập đến, đơn vị anh tôi lại chuyển quân lên vùng Lạng Sơn. Đây không biết lần thứ bao nhiêu anh tôi đối mặt với cái chết. Trước khi chuyển quân, anh viết thư cho mình dặn đừng lên Lục Ngạn thăm anh nữa.Trường mình dịp ấy cũng rạo rực phong trào tình nguyện ra mặt trận cầm súng tiêu diệt lũ bành trướng. Mình cũng làm đơn xin tái ngũ để được lên Biên giới gặp anh.
Khi chiến tranh biên giới phía Bắc nổ ra thì ở Lạng Sơn, mình có hai anh trai và một chị dâu đang ở đó. Đó là gia đình anh trai đầu của mình cư ngụ tại Lộc Bình. Chị dâu mình là người dân tộc Thái lúc đó đang làm cửa hàng trưởng cửa hàng bách hóa tổng hợp huyện Lộc Bình. Anh trai cả của mình là giáo viên quân khí của học viện Hậu cần về nhà thăm vợ con.Còn Bính Tút hồi đó nghe tin anh chị cả bị mắc kẹt ở Lộc Bình nên xin phép đơn vị được lên Lộc Bình để đưa anh cả và chị dâu cùng các cháu đi sơ tán. Lên đến thị xã Lạng sơn thì bị ngăn lại vì thị xã đã bị bọn bành trướng chiếm giữ. Anh thất vọng trở về đơn vị sớm để sẵn sàng chiến đấu. Cũng may là gia đình anh cả mình đã được lực lượng Biên phòng Lạng Sơn giải cứu đưa về Hữu Lũng an toàn.
Giữa năm 1979, nhờ biết nói tiếng Tàu thành thạo nên Bính Tút được điều sang đơn vị trinh sát đặc biệt. Anh phải thọc sâu vào sào huyệt của địch để nắm tình hình.
Một lần anh được đơn vị cử về Hà nội liên hệ với nhà máy pin Văn Điển để mua một khối lượng pin khá lớn nhằm phục vụ cho công tác nghiệp vụ. Mình dùng xe đạp chở anh xuống Văn Điển gặp giám đốc nhà máy Pin con thỏ. Sau khi xem giấy giới thiệu của anh, giám đốc gọi trưởng phòng kế hoạch lên hội ý. Cuối cùng họ trả lời pjn đã xuất hết cho các cửa hàng bách hóa. Hai anh em vào tận hang cùng ngõ hẻm tìm các cửa hàng bách hóa tổng hợp liên hệ nhưng tất cả đều trả lời đã bán hết sạch.
Không thể về tay không, hai anh em bàn nhau vào chợ Đồng Xuân lùng mua lại của bọn con buôn.
Sợ mình mệt, anh bảo mình về nghỉ để một mình anh vào chợ. Chiều tối anh về với một ba lô sau lưng nặng trĩu. Thấy anh vui vui, mình đoán anh đã thành công. Về đến nhà, rửa tay chân xong, anh lấy một cặp vào đèn pin bật thử. Đèn không sáng. Mình nghĩ là đèn hỏng nên mở ra kiểm tra. Đèn vẫn bình thường. Anh lấy mũi dao nhíp cạy một đầu pin ra. Trời ơi, một chiếc pin nhãn hiệu “Con thỏ” đầy cát. Anh thở dài và lảo đảo gục xuống giường. Vậy là anh đã mua phải 400 đôi pin dỏm. Mình động viên anh yên tâm, sáng mai hai anh em vào chợ tìm cách hóa giải.
Ăn vội bát bo bo chan nước mắm, mình lấy khẩu súng K59 của anh dắt vào lưng quần rồi chở anh vào chợ Đồng Xuân.
Mình vào văn phòng ban quản lý chợ Đồng Xuân xin gặp trưởng ban. Ông trưởng ban quản lý chợ ngoài 40, vừa lùn, vừa to với cái bụng phệ nhìn mình ra vẻ dò xét.
- Anh gặp tôi có chuyện gì?
Mình đưa tờ giấy giới thiệu của anh cho lão ta xem và kể hết sự tình mua phải pin dỏm chiều qua cho anh ta nghe và đề nghị Ban quản lý chợ hợp tác giải quyết vụ buôn bán pin giả này. Anh ta gật đầu đồng ý và hứa sẽ hợp tác tận tình. Trong lúc mình làm việc với ban quản lý chợ thì anh mình tranh thủ đi lòng vòng trong chợ tìm kẻ đã bán pin hôm qua. Như thỏa
thuận , khi nào anh phát hiện kẻ đã bán pin cho anh hôm qua thì giả vờ giơ tay gãi đầu để mình tiếp cận.
Khi con mồi xuất hiện và mình đã nhận được ám hiệu thì anh đứng nép vào quầy hàng gần đó. Mình gặp con mụ mà anh đã chỉ và hỏi:- Em ơi, em có biết ai bán pin đèn không chỉ cho anh với? Gãi đúng chỗ ngứa, con mụ kia ra hiệu theo hắn. Mình đi theo mụ đến góc chợ. Hắn hỏi mình với giọng ngọt xớt: “ Đại ca muốn mua bao nhiêu?”
- khoảng 400 đôi pin đại. Nhoáng một cái, bốn năm cô gái khoảng 25-30 xách mấy bao xác rắn đến và bảo: Đại ca cứ đếm thoải mái. Khi đã dẫm chặt 5 bao đựng pin dưới chân, mình rút súng ra và hô: “ Chúng mày đã bị bắt!”
Anh mình lao ra nắm chặt con mụ lớn tuổi và hai đứa khác. Mình nắm chặt một đứa, còn hai đứa khác bỏ chạy ra khỏi chợ.
Kéo lũ nữ quái vào ban quản lý, yêu cầu lập biên bản bắt giữ và gọi cảnh sát phường Đồng Xuân đến xử lý. Thu lại toàn bộ số tiền đã mua pin chiều qua, hai anh em mình giao lũ buôn hàng dỏm cho ban quản lý chợ và công an rồi lên xe về nhà trọ.
Rất may là lấy lại được số tiền đã bỏ ra mua phải mớ pin dỏm kia và phát hiện ra sớm không thì anh mình sẽ chịu kỷ luật nặng. Một bài học nhớ đời cho cả hai anh em mình.
( Còn tiếp)
Anh tôi 2
Anh tôi ( Tiếp theo )
Mình hết phép nên phải trở về đơn vị. Ngày ngày mẹ quanh quẩn ra vào chăm sóc anh.
Vài tháng sau, anh nhận được giấy mời về Ban tuyển sinh tỉnh. Anh gửi thư báo tin cho mình biết anh được chọn vào học bất cứ trường Đại học nào ở trong nước. Mình động viên anh ghi danh vào học Đại học sư phạm Vinh cho gần nhà để có điều kiện chạy đi chạy về để bố mẹ yên tâm. Anh bảo ở Thanh niên xung phong anh chuyên làm nghề trắc địa, mở đường mới đê thổng xe và tính toán khối lượng đào đắp tối ưu nhất nên anh ghi tên vào khoa Trắc địa, trường Đại học Mỏ địa chất. Mình không biết nói gì nữa.
Năm 1972, Mỹ ném bom Hà nội, Hải phòng và các thành phố khác vô cùng ác liệt. Đang học năm thứ 3, anh lại làm đơn tình nguyện gia nhập Quân đội để vàoNam chiến đấu. Với tinh thần quyết
liệt của anh, trường đại học Mỏ đành chấp nhận để anh đi. Vì lúc đó mình đang
ở chiến trường miền Đông Nam bộ
nên không liên lạc về quê được nên không biết tin tức anh nhập ngũ . Mình không
hề biết hai anh em cùng chiến đấu tại Miền Đông nam bộ.
Thực thi hiệp định Paris được ký kết giữa bốn bên ngày 27 tháng 1 năm 1973, mình được phân công chuyển sang làm công tác trao trả tù binh. Sau một mùa hè nóng bỏng trên bờ sông Thạch hãn- Quảng trị để trao trả và tiếp nhận tù binh, không hiểu sao mình cứ hy vọng được đón anh trở về từ phía bên kia trên chiếc ca nô của Việt nam Cộng hòa nổ phành phạch trên sông Thạch Hãn…
Hoàn thành nhiệm vụ, mình được ghé về thăm nhà. Cha mẹ mình ngồi thu lu ở góc bếp ngóng tin hai anh em mình từ chiến trường xa. Vắng tin anh, mình nhớ và rất lo cho sức khỏe của anh. Mình lại sợ cơn sốt rét ác tính lại quật anh ngã xuống nơi rừng sâu, suối vắng.
Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc lâu rồi, cả nước hân hoan mừng chiến thắng mà tin anh vẫn bặt vô âm tín. Làm bí thư đoàn xã, mình tiếp nhận nhiều giấy báo tử, nhiều di vật liệt sĩ và tổ chức nhiều lễ truy điệu liệt sĩ nhưng vẫn không có tin tức về anh. Đêm đêm, nhớ anh, lo điều gì đó không lành đến với anh, mình cứ thao thức, trằn trọc và khóc thầm. Mình chỉ sợ cha mẹ mình lo cho anh mà gục xuống thì càng nguy hiểm.
Đầu năm 1976, bỗng dưng anh lù lù trở về với chiếc ba lô xép lẹp với chiếc radioHitachi chầy xước và sứt mẻ. Cha mình lọ mọ
ra tận ngõ đón anh, ôm lấy anh mà khóc. Cả làng nghe tin anh về cũng chạy đến
chúc mừng. Mình thì vui hết nói. Anh được ở nhà một tuần rồi lên đường về đơn
vị ở tận Bình Liêu - Quảng ninh.
Ăn mày hiện đại
Sai khi thi vàovào Đại học, mình được gọi vào một trường Đại học có tên tuổi ở Hà nội. Lúc mình nhập học cũng là lúc đơn vị anh chuyển về đóng quân tại Lục ngạn – Hà bắc. Anh hẹn mình đúng 9 giờ sáng ngày chủ nhật gặp nhau tại thị trấn Chủ. Mình đạp xe tới nơi thì đã thấy anh ngồi đợi ở đó. Anh đưa mình vào Sơn động gần chỗ anh đón quân . Hôm ấy đúng vào ngày Tết Đoan ngọ. Bà con ở đây làm xôi ngũ sắc và chè đậu đỏ đãi anh em mình. Hai anh em ăn xôi, chè mà lòng nghĩ đến cha và mẹ ở quê. Giờ này ở quê chỉ còn hai ông bà gần 70 tuổi, không còn sức lao động, không ruộng vườn, không lúa không khoai…và đói ăn quanh năm. Anh bàn với mình hai anh em đến từng nhà dân ăn mày. Câu chuyện của anh và mình lọt đến tai anh Xu- Bí thư Đảng ủy xã. Anh ấy bảo để anh ấy đi cùng. Anh Xu bảo hai anh em mình cứ ở một chỗ đợi anh ấy một lúc. Một giờ sau, hàng chục người gồm ông già, bà già, các anh chị trung niên, mỗi người vác một bao đến tìm hai anh em. Họ bảo trong bao có lúa chưa kịp xay, có gạo chưa kịp giã , hai đứa mày mang về cứu đói cho cha mẹ ở quê . Sợ hai đứa mày không chở hết nên bọn tao chỉ đóng một ít thôi. Hôm nào chúng mày lên đây, dân làng ở đây sẽ gửi tiếp. Thì ra anh Xu đã đi vận động từng gia đình góp lúa, gạo mang đến giúp hai anh em mình.
Mười bốn giờ chiều, anh dồn bao đóng gói bỏ lên xe để mình chở về Hà nội. Vì lúa gạo quá nhiều, nặng với lại săm lốp xe đạp của mình cũ quá sợ không tải nổi. Vì vậy hai anh em lại buộc lên hai xe chở ra thị xã Bắc giang gửi một ít lại đó để lên lấy sau. Còn mình với hơn 90 kg sau xe túc tắc về Hà nội.
Chủ nhật sau đó, mình lại đạp xe vượt 50 km từ Hà nội lên Bắc Giang nhận lại 70 kg gạo lúa hôm trước gửi lại.
Nghỉ hè, mình xay xát lại oàn bộ gạo lúa đã xin được bỏ lên tàu mang về quê giúp cha mẹ.
Vì gạo chở trên tàu không có giấy tờ nên thuế vụ trên tàu bắt bỏ xuống khi tàu dừng ga chợ Sy và bị thuế vụ tịch thu. Tiếc của, tiếc mồ hôi, nước mắt lại nghĩ thương cha thương mẹ đói xỉu ở quê, mình tức tốc quay ra Hà nội và phóng xe đạp lên tận Sơn Động báo tin cho anh. Anh vội vàng báo cáo với chỉ huy đơn vị và họ làm giấy bảo lãnh có đóng dấu của Quân khu I để mình về ga Sy nhận lại.
Oái oăm thay, về đến Ga Sy lại đúng ngày chủ nhật, bọn thuế vụ ở đây về nhà hết nên không gặp được ai. Mình hỏi thăm về nhà anh bạn ở Diễn Hạnh nghỉ lại chờ thứ hai lấy gạo.
Bọn thuế vụ ở đây đinh ninh gạo mình buôn lậu nên sẽ không có chứng từ nên chia nhau mang về nhà đánh chén. Khi mình đến trình giấy tờ do Quân đội xác nhận thì bọn chúng ngớ người ra và ú ớ chối quanh. Mình yêu cầu gặp lãnh đạo chu cục thuế để làm cho ra nhẽ. Bọn họ sợ quá nên đề nghị xin được thanh toán bằng tiền theo giá gạo Nhà nước 3 hào tám/một kg. Mình không chịu và dút khoát phải trả lại đúng gạo mà mình mang về. Bọn họ đề nghị trả bằng tiền 4 hào mốt/một kg. Mình vẫn không chịu và đề nghị báo lên lãnh đạo chi cục. Bí và sợ bị sa thải, bọn chúng xin mình chờ cho một ngày để về nhà mang gạo đến trả. Cuối cùng gạo được trả lại nhưng thiếu mất 10 kg. Bọn họ phải trả lại cho mình 1 đồng/một kg gạo bị thiếu. Ngoài ra bọn họ phải mua vé tàu cho người và cước hành lý để mình mang gạo về Vinh.
Hè năm ấy, cha mẹ mình vượt qua nạn đói.
Chuyến ăn mày của hai anh em cứ ghi sâu vào trí nhớ và mỗi lần gặp nhau, kể lại, hai anh em lại cười. Nụ cười xen lẫn cả những giọt nước mắt.
Mình hết phép nên phải trở về đơn vị. Ngày ngày mẹ quanh quẩn ra vào chăm sóc anh.
Vài tháng sau, anh nhận được giấy mời về Ban tuyển sinh tỉnh. Anh gửi thư báo tin cho mình biết anh được chọn vào học bất cứ trường Đại học nào ở trong nước. Mình động viên anh ghi danh vào học Đại học sư phạm Vinh cho gần nhà để có điều kiện chạy đi chạy về để bố mẹ yên tâm. Anh bảo ở Thanh niên xung phong anh chuyên làm nghề trắc địa, mở đường mới đê thổng xe và tính toán khối lượng đào đắp tối ưu nhất nên anh ghi tên vào khoa Trắc địa, trường Đại học Mỏ địa chất. Mình không biết nói gì nữa.
Năm 1972, Mỹ ném bom Hà nội, Hải phòng và các thành phố khác vô cùng ác liệt. Đang học năm thứ 3, anh lại làm đơn tình nguyện gia nhập Quân đội để vào
Thực thi hiệp định Paris được ký kết giữa bốn bên ngày 27 tháng 1 năm 1973, mình được phân công chuyển sang làm công tác trao trả tù binh. Sau một mùa hè nóng bỏng trên bờ sông Thạch hãn- Quảng trị để trao trả và tiếp nhận tù binh, không hiểu sao mình cứ hy vọng được đón anh trở về từ phía bên kia trên chiếc ca nô của Việt nam Cộng hòa nổ phành phạch trên sông Thạch Hãn…
Hoàn thành nhiệm vụ, mình được ghé về thăm nhà. Cha mẹ mình ngồi thu lu ở góc bếp ngóng tin hai anh em mình từ chiến trường xa. Vắng tin anh, mình nhớ và rất lo cho sức khỏe của anh. Mình lại sợ cơn sốt rét ác tính lại quật anh ngã xuống nơi rừng sâu, suối vắng.
Chiến dịch Hồ Chí Minh kết thúc lâu rồi, cả nước hân hoan mừng chiến thắng mà tin anh vẫn bặt vô âm tín. Làm bí thư đoàn xã, mình tiếp nhận nhiều giấy báo tử, nhiều di vật liệt sĩ và tổ chức nhiều lễ truy điệu liệt sĩ nhưng vẫn không có tin tức về anh. Đêm đêm, nhớ anh, lo điều gì đó không lành đến với anh, mình cứ thao thức, trằn trọc và khóc thầm. Mình chỉ sợ cha mẹ mình lo cho anh mà gục xuống thì càng nguy hiểm.
Đầu năm 1976, bỗng dưng anh lù lù trở về với chiếc ba lô xép lẹp với chiếc radio
Ăn mày hiện đại
Sai khi thi vàovào Đại học, mình được gọi vào một trường Đại học có tên tuổi ở Hà nội. Lúc mình nhập học cũng là lúc đơn vị anh chuyển về đóng quân tại Lục ngạn – Hà bắc. Anh hẹn mình đúng 9 giờ sáng ngày chủ nhật gặp nhau tại thị trấn Chủ. Mình đạp xe tới nơi thì đã thấy anh ngồi đợi ở đó. Anh đưa mình vào Sơn động gần chỗ anh đón quân . Hôm ấy đúng vào ngày Tết Đoan ngọ. Bà con ở đây làm xôi ngũ sắc và chè đậu đỏ đãi anh em mình. Hai anh em ăn xôi, chè mà lòng nghĩ đến cha và mẹ ở quê. Giờ này ở quê chỉ còn hai ông bà gần 70 tuổi, không còn sức lao động, không ruộng vườn, không lúa không khoai…và đói ăn quanh năm. Anh bàn với mình hai anh em đến từng nhà dân ăn mày. Câu chuyện của anh và mình lọt đến tai anh Xu- Bí thư Đảng ủy xã. Anh ấy bảo để anh ấy đi cùng. Anh Xu bảo hai anh em mình cứ ở một chỗ đợi anh ấy một lúc. Một giờ sau, hàng chục người gồm ông già, bà già, các anh chị trung niên, mỗi người vác một bao đến tìm hai anh em. Họ bảo trong bao có lúa chưa kịp xay, có gạo chưa kịp giã , hai đứa mày mang về cứu đói cho cha mẹ ở quê . Sợ hai đứa mày không chở hết nên bọn tao chỉ đóng một ít thôi. Hôm nào chúng mày lên đây, dân làng ở đây sẽ gửi tiếp. Thì ra anh Xu đã đi vận động từng gia đình góp lúa, gạo mang đến giúp hai anh em mình.
Mười bốn giờ chiều, anh dồn bao đóng gói bỏ lên xe để mình chở về Hà nội. Vì lúa gạo quá nhiều, nặng với lại săm lốp xe đạp của mình cũ quá sợ không tải nổi. Vì vậy hai anh em lại buộc lên hai xe chở ra thị xã Bắc giang gửi một ít lại đó để lên lấy sau. Còn mình với hơn 90 kg sau xe túc tắc về Hà nội.
Chủ nhật sau đó, mình lại đạp xe vượt 50 km từ Hà nội lên Bắc Giang nhận lại 70 kg gạo lúa hôm trước gửi lại.
Nghỉ hè, mình xay xát lại oàn bộ gạo lúa đã xin được bỏ lên tàu mang về quê giúp cha mẹ.
Vì gạo chở trên tàu không có giấy tờ nên thuế vụ trên tàu bắt bỏ xuống khi tàu dừng ga chợ Sy và bị thuế vụ tịch thu. Tiếc của, tiếc mồ hôi, nước mắt lại nghĩ thương cha thương mẹ đói xỉu ở quê, mình tức tốc quay ra Hà nội và phóng xe đạp lên tận Sơn Động báo tin cho anh. Anh vội vàng báo cáo với chỉ huy đơn vị và họ làm giấy bảo lãnh có đóng dấu của Quân khu I để mình về ga Sy nhận lại.
Oái oăm thay, về đến Ga Sy lại đúng ngày chủ nhật, bọn thuế vụ ở đây về nhà hết nên không gặp được ai. Mình hỏi thăm về nhà anh bạn ở Diễn Hạnh nghỉ lại chờ thứ hai lấy gạo.
Bọn thuế vụ ở đây đinh ninh gạo mình buôn lậu nên sẽ không có chứng từ nên chia nhau mang về nhà đánh chén. Khi mình đến trình giấy tờ do Quân đội xác nhận thì bọn chúng ngớ người ra và ú ớ chối quanh. Mình yêu cầu gặp lãnh đạo chu cục thuế để làm cho ra nhẽ. Bọn họ sợ quá nên đề nghị xin được thanh toán bằng tiền theo giá gạo Nhà nước 3 hào tám/một kg. Mình không chịu và dút khoát phải trả lại đúng gạo mà mình mang về. Bọn họ đề nghị trả bằng tiền 4 hào mốt/một kg. Mình vẫn không chịu và đề nghị báo lên lãnh đạo chi cục. Bí và sợ bị sa thải, bọn chúng xin mình chờ cho một ngày để về nhà mang gạo đến trả. Cuối cùng gạo được trả lại nhưng thiếu mất 10 kg. Bọn họ phải trả lại cho mình 1 đồng/một kg gạo bị thiếu. Ngoài ra bọn họ phải mua vé tàu cho người và cước hành lý để mình mang gạo về Vinh.
Hè năm ấy, cha mẹ mình vượt qua nạn đói.
Chuyến ăn mày của hai anh em cứ ghi sâu vào trí nhớ và mỗi lần gặp nhau, kể lại, hai anh em lại cười. Nụ cười xen lẫn cả những giọt nước mắt.
Anh tôi 1
Anh tôi
Không biết có phải anh sinh năm Tuất hay không mà hồi còn nhỏ bọn bạn anh thường gọi anh với cái tên Bính Tuất.( quê mình goi là Bính Tút )
Anh hơn mình 5 tuổi. Khi còn nhỏ anh thường bị bố đánh vì cái tội hay trêu chọc mình. Cứ mỗi lần anh không chiều theo ý mình là mình khó và đổ lỗi cho anh là anh lại bị bố đánh. Có lẽ vì vậy mà càng lớn, mình càng thương anh hơn.
Anh có nhiều tài vặt. Hát không hay nhưng anh có nhiều chiêu làm cho người ta thích xem anh hát. Mười lăm tuổi, anh thích một cô gái tên Hợi cùng thôn thua anh một tuổi. Vì vậy bất kì bài hát nào, bắt đầu vào bài anh cũng có câu hò:” Ơi hò”. Bài hát cửa miệng của anh là bài “ Câu hò bên bến Hiền lương”, vì bài hát này không cần chế cũng có hai tiếng “ Ơi hò”.
Mình không biết tại sao mở đầu bài hát nào , anh cũng “ Ơi hò”.Năn nỉ thế nào anh cũng
không giải đáp. Một hôm mình làm giao liên cho bộ đội đưa quân về làng nghỉ một
đêm để mai tiếp tục hành quân vào Nam, hấy mình nhỏ tuổi mà thức đêm, thức hôm,
dầm mưa đưa bộ đội về làng, một anh đại úy, tiểu đoàn trưởng tặng một chiếc kèn
Acmonica. Mình khoe với B., anh thích quá bảo “ cho tao rồi tao nói bí mật bài
hát cho mà nghe. Vì tò mò, tôi tặng anh cái kèn - vật kỷ niệm quý báu nhất của
mình. Anh bảo mày lái lại hai chữ “Ơi hò” thử coi.
Thì ra vậy, anh muốn gọi tên người mình thích nên đệm hai tiếng “ Ơi hò”=”O Hợi”
Mình nhớ một buổi tối thanh niên làng mình tập văn nghệ để liên hoan kết nghĩa với đơn vị bộ đội binh trạm đóng quân ở làng bên. Buổi tập đêm ấy vắng chị Hợi. Anh buồn không muốn tập. Chị bí thư chi đoàn phê bình anh, bắt anh phải vào nhảy điệu múa sạp. Miễn cưỡng, anh vào nhảy. Đang lúc cả nhóm nhảy say sưa thì quần dài anh tụt xuống chỉ còn chiếc quần đùi ngắn ngủn. Tất cả chị em trong đội văn nghệ bịt miệng cười chạy tán loạn. Buổi tập dừng lại. Sau này anh mới tiết lộ cho mình biết là anh đã mở hết cúc quần và phéc mơ tuya trước khi vào nhảy để chống đối chị bi thư chi đoàn hắc xì dầu kia.
Năm 1963, tròn 17 tuổi, anh tình nguyện ghi tên gia nhập đội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. Anh đi rồi, nhà chỉ còn lại mình với bố mẹ già. Nhớ và thương anh, đêm nào mẹ cũng khóc. Nhớ anh mình cũng khóc .
Đại đội TNXP của anh đóng ở Ngã ba Đồng Lộc, chỉ cách nhà gần ba chục cây số. Thỉnh thoảng anh lấy chiếc xe đạp Vĩnh cửu của đơn vị chạy về thăm nhà. Mỗi lần anh về, anh lại cho mình mượn xe đạpvà giữ cho mình tập đi. Dạo đó cả xã mình chỉ có một vài chiếc xe đạp của mấy ông mấy bà làm cơ quan Nhà nước. Mình tập cho biết chứ có bao giờ nghĩ rằng mình sẽ có xe đạp để đi. Khi mình biết đi xe cũng là lúc Mỹ đưa máy bay ném bom miền Bắc. Vùng Ngã ba Đồng lộc được gọi là túi bom vì đi oanh tạc ở đâu đâu, khi về đến Đồng Lộc, còn bao nhiêu bom trên máy bay đều được trút xuống nơi đây. Lâu không thấy anh về, mẹ mình lo lắng. Mình không dám nói ra nhưng trong thâm tâm luôn sợ điều gì xấu nhất đến với anh.
Một ngày cuối tháng 7 năm 1968, anh lại đạp xe về với gương mặt buồn thiu và hốc hác. Anh kể cho tôi nghe sự hy sinh của 10 nữ đồng đội của anh hy sinh. Anh đã khóc, anh khóc thành tiếng làm mọi người nhầm tưởng anh bị bố đánh.
Năm 1969, anh được đơn vị cho đi học Bổ túc công nông ( tương đương cấp 3 bây giờ).
Anh tốt nghiệp khóa học đạt loại giỏi và được cử đi học đại học ở Liên xô. ( Hồi đó chưa phải thi đại học như bây giờ).
Ngày vào thị xã Hà tĩnh tập trung để lên đường sang Nga của anh là ngày không bao giờ mình quên được. Từ chiến trường miềnNam , mình được ra Bắc điều dưỡng ghé
về thăm nhà cũng là ngày anh vào Ty Giáo dục tập trung. Sáng tháng 7, trời nắng
như đổ lửa, hai anh em mượn xe đạp của một anh cạnh nhà đang công tác ở huyện ủy Đức thọ để đi. Anh
chở mình đi ngang qua Ngã ba Đồng Lộc. Lúc ấy là 12 giờ trưa. Cả môt vùng đất dày
đặc hố bom, không một bóng cây. Anh em mình dừng lại thắp hương lên mộ 10 đồng đội của anh. Viếng mộ các chị xong, hai
anh em lên xe đi tiếp thì bánh xe sau nổ ruột.
Đồng không mông quạnh, không một bóng người thì làm gì có quán sửa xe.
Anh dùng que xâu dép cao su cạy lốp, dùng
dây cao su đèo hàng thắt hai đầu chỗ bị nổ.
Khúc săm bị nổ thì lấy áo lót, quần lót quấn vào cho đầy bánh rồi đi tiếp. Chưa
đầy 20 phút , bánh xe trước lại nổ, lại cạy , lại quấn dây, lại bơm lại đèo
nhau đi. Từ Ngã ba Đồng Lộc đến Thị xã còn
hai chục cây số. Nhiều quãng hai anh em phải xuống dắt bộ vì đường quá xấu.
Đến cách thị xã khoảng 1km thì anh dẫn mình vào nhà người bạn cùng đơn vị TNXP với anh. Sau khi kể chuyện mượn xe, hỏng xe và không biết chú em về nhà có đảm bảo không, trả xe, chủ xe sẽ nói gì? Giờ bạn biết mua ruột xe, lốp xe ở đâu thì chỉ giùm để thay cho chú em về.
Anh bạn không nói không rằng chạy vào nhà dắt xe của anh ra tháo ngay săm lốp rồi thay vào xe anh Đại mà anh em mình đã mượn rồi bảo: “ Thàng Mão cứ đi về đi, chuyện của tau tau lo.”.
Hai anh em cám ơn rối rít và anh Bính hẹn bạn sẽ hoàn trả khi ở Liên xô về.
Không kịp ăn tối cùng anh, mình chia tay anh để về nhà cho kịp. Lúc ấy là 16 giờ 30. Một mình một xe, lần đầu tiên đi trên một chặng đường dài 60 km, lòng mình nặng trĩu như đeo đá. Vừa thương anh vất vả, vừa đói, vừa mệt, mình ráng sức đạp vì sợ tối không biết đường về nhà. Vậy mà cũng phải đến hai mươi giờ tối hôm đó mình mới về đến nơi. Mình vào thẳng nhà anh Đại trả xe rồi lết về nhà . Mẹ ngồi bên mâm cơm dọn sẵn chờ mình. Cha đau răng nên ăn cháo đi nằm sớm.
Nửa đêm hôm đó mình thức giấc và nhớ anh.Tự dưng mình nóng ruột đến ghê gớm. Mẹ cũng không ngủ được. Mẹ cứ đi ra đi vô, trông bà bần thần như mất trằm bạc đeo tai vậy.
Mới 4 giờ sáng, một con cú mèo đậu trên nóc nhà kêu ba tiếng nghe rùng rợn nổi hết cả gai ốc. Cha nhảy dậy vác sào ra đuổi. Con cú mèo bay đi một lúc lại quay trở lại và kêu ba tiếng.
Mẹ gọi mình: Mão ơi, dậy con. Không biết có chuyện chi mà con cú cứ đỗ trên nóc nhà mình kêu nhiều rứa không biết?. Mình dậy , ra sân rồi an ủi mẹ: Nỏ răng mô mẹ ạ. Cú đi ăn đêm lạc đường nên hắn kêu đó thôi. Nói là nói vậy chứ mình cũng thấy lo lo.
Bảy giờ sáng, anh Giáp chạy thư của xã gọi mình ra lấy điện tín. Bức điện tín chỉ có 7 chữ: Bính ốm nặng, vô ngay BV tỉnh/ Hường
Mình đưa bức điện cho cha rồi chạy qua nhà anh Đại mượn xe đạp một mạch vô bệnh viện Thạch Hương. Chị Hường quê Đồng lộc, bạn TNXP với anh đứng chờ mình ở cổng bệnh viện khóc òa khi thấy mình: Anh Bính chết rồi Mão ơi!. Mình ném xe ở cửa bệnh viện chạy theo chị ấy vào nhà xác. Anh nằm thẳng trên mình đắp tấm vải trắng, hai tay đặt lên bụng. Mình ào vô ôm lấy anh mà thét: Anh! Anh ơi, răng lại a ri rứa trời?
Chị Hường đứng ngoài cửa ngó vô: thôi, để cho anh nớ yên đi Mão ơi.
Bỗng dưng, mình thấy anh cử động rồi mở mắt ra nhìn mình: Mão à, răng em còn ở đây chưa về? Ở mô đây mà túi om ra ri?
Mình bỏ anh đó, chạy ra khỏi cửa nhà xác kêu toáng lên: Anh tui còn sống , răng mấy người lại bỏ anh vô nhà xác. Các y tá chạy ùa vào bỏ anh lên xe đẩy chở anh về phòng điều trị. Chị Hường nắm chặt tay anh tôi mà khóc vì mừng. Rồi chị ấy chạy đi mua phở cho hai anh em tôi. Trong khi tôi đút cho anh ăn thì chị ấy lại ra bưu điện báo tin về nhà để cha mẹ tôi yên tâm.
Một anh bạn cùng đoàn đi du học với anh kể cho tôi nghe chuyện anh bị ốm. Khoảng 18 giờ chiều hôm qua, sau khi từ quê vào, anh ấy ra giếng tắm sau đó ra căngtin ăn cơm rồi đi nằm vì kêu mệt. Khoảng 21 giờ bỗng nhiên thấy anh giật bắn người từ trên giường rơi xuống đất và giật liên tục. Mấy anh em cùng phòng lấy võng cáng anh vô bệnh viện. Nửa đêm anh ấy tắt thở. Các bác sĩ bảo anh ấy bị sốt rét ác tính nên không chữa kịp. Vật là họ đưa anh vào nhà xác. Mở cuốn sổ tay nhỏ bỏ trong túi anh ấy, chúng tôi nhìn thấy địa chỉ và số điện thoại của nhiều người, trong đó chị Hường là người gần đây nhất nên chúng tôi điện báo cho chị ấy.
Nằm viện một tuần thì anh bình phục. Chuyến đi du học của anh bị trễ. Vậy là lỡ mất cơ hội hiếm có. Mình lại đèo anh về quê trong nỗi buồn tê dại…( Còn tiếp)
Không biết có phải anh sinh năm Tuất hay không mà hồi còn nhỏ bọn bạn anh thường gọi anh với cái tên Bính Tuất.( quê mình goi là Bính Tút )
Anh hơn mình 5 tuổi. Khi còn nhỏ anh thường bị bố đánh vì cái tội hay trêu chọc mình. Cứ mỗi lần anh không chiều theo ý mình là mình khó và đổ lỗi cho anh là anh lại bị bố đánh. Có lẽ vì vậy mà càng lớn, mình càng thương anh hơn.
Anh có nhiều tài vặt. Hát không hay nhưng anh có nhiều chiêu làm cho người ta thích xem anh hát. Mười lăm tuổi, anh thích một cô gái tên Hợi cùng thôn thua anh một tuổi. Vì vậy bất kì bài hát nào, bắt đầu vào bài anh cũng có câu hò:” Ơi hò”. Bài hát cửa miệng của anh là bài “ Câu hò bên bến Hiền lương”, vì bài hát này không cần chế cũng có hai tiếng “ Ơi hò”.
Mình không biết tại sao mở đầu bài hát nào , anh cũng “ Ơi hò”.
Thì ra vậy, anh muốn gọi tên người mình thích nên đệm hai tiếng “ Ơi hò”=”O Hợi”
Mình nhớ một buổi tối thanh niên làng mình tập văn nghệ để liên hoan kết nghĩa với đơn vị bộ đội binh trạm đóng quân ở làng bên. Buổi tập đêm ấy vắng chị Hợi. Anh buồn không muốn tập. Chị bí thư chi đoàn phê bình anh, bắt anh phải vào nhảy điệu múa sạp. Miễn cưỡng, anh vào nhảy. Đang lúc cả nhóm nhảy say sưa thì quần dài anh tụt xuống chỉ còn chiếc quần đùi ngắn ngủn. Tất cả chị em trong đội văn nghệ bịt miệng cười chạy tán loạn. Buổi tập dừng lại. Sau này anh mới tiết lộ cho mình biết là anh đã mở hết cúc quần và phéc mơ tuya trước khi vào nhảy để chống đối chị bi thư chi đoàn hắc xì dầu kia.
Năm 1963, tròn 17 tuổi, anh tình nguyện ghi tên gia nhập đội Thanh niên xung phong chống Mỹ cứu nước. Anh đi rồi, nhà chỉ còn lại mình với bố mẹ già. Nhớ và thương anh, đêm nào mẹ cũng khóc. Nhớ anh mình cũng khóc .
Đại đội TNXP của anh đóng ở Ngã ba Đồng Lộc, chỉ cách nhà gần ba chục cây số. Thỉnh thoảng anh lấy chiếc xe đạp Vĩnh cửu của đơn vị chạy về thăm nhà. Mỗi lần anh về, anh lại cho mình mượn xe đạpvà giữ cho mình tập đi. Dạo đó cả xã mình chỉ có một vài chiếc xe đạp của mấy ông mấy bà làm cơ quan Nhà nước. Mình tập cho biết chứ có bao giờ nghĩ rằng mình sẽ có xe đạp để đi. Khi mình biết đi xe cũng là lúc Mỹ đưa máy bay ném bom miền Bắc. Vùng Ngã ba Đồng lộc được gọi là túi bom vì đi oanh tạc ở đâu đâu, khi về đến Đồng Lộc, còn bao nhiêu bom trên máy bay đều được trút xuống nơi đây. Lâu không thấy anh về, mẹ mình lo lắng. Mình không dám nói ra nhưng trong thâm tâm luôn sợ điều gì xấu nhất đến với anh.
Một ngày cuối tháng 7 năm 1968, anh lại đạp xe về với gương mặt buồn thiu và hốc hác. Anh kể cho tôi nghe sự hy sinh của 10 nữ đồng đội của anh hy sinh. Anh đã khóc, anh khóc thành tiếng làm mọi người nhầm tưởng anh bị bố đánh.
Năm 1969, anh được đơn vị cho đi học Bổ túc công nông ( tương đương cấp 3 bây giờ).
Anh tốt nghiệp khóa học đạt loại giỏi và được cử đi học đại học ở Liên xô. ( Hồi đó chưa phải thi đại học như bây giờ).
Ngày vào thị xã Hà tĩnh tập trung để lên đường sang Nga của anh là ngày không bao giờ mình quên được. Từ chiến trường miền
Đến cách thị xã khoảng 1km thì anh dẫn mình vào nhà người bạn cùng đơn vị TNXP với anh. Sau khi kể chuyện mượn xe, hỏng xe và không biết chú em về nhà có đảm bảo không, trả xe, chủ xe sẽ nói gì? Giờ bạn biết mua ruột xe, lốp xe ở đâu thì chỉ giùm để thay cho chú em về.
Anh bạn không nói không rằng chạy vào nhà dắt xe của anh ra tháo ngay săm lốp rồi thay vào xe anh Đại mà anh em mình đã mượn rồi bảo: “ Thàng Mão cứ đi về đi, chuyện của tau tau lo.”.
Hai anh em cám ơn rối rít và anh Bính hẹn bạn sẽ hoàn trả khi ở Liên xô về.
Không kịp ăn tối cùng anh, mình chia tay anh để về nhà cho kịp. Lúc ấy là 16 giờ 30. Một mình một xe, lần đầu tiên đi trên một chặng đường dài 60 km, lòng mình nặng trĩu như đeo đá. Vừa thương anh vất vả, vừa đói, vừa mệt, mình ráng sức đạp vì sợ tối không biết đường về nhà. Vậy mà cũng phải đến hai mươi giờ tối hôm đó mình mới về đến nơi. Mình vào thẳng nhà anh Đại trả xe rồi lết về nhà . Mẹ ngồi bên mâm cơm dọn sẵn chờ mình. Cha đau răng nên ăn cháo đi nằm sớm.
Nửa đêm hôm đó mình thức giấc và nhớ anh.Tự dưng mình nóng ruột đến ghê gớm. Mẹ cũng không ngủ được. Mẹ cứ đi ra đi vô, trông bà bần thần như mất trằm bạc đeo tai vậy.
Mới 4 giờ sáng, một con cú mèo đậu trên nóc nhà kêu ba tiếng nghe rùng rợn nổi hết cả gai ốc. Cha nhảy dậy vác sào ra đuổi. Con cú mèo bay đi một lúc lại quay trở lại và kêu ba tiếng.
Mẹ gọi mình: Mão ơi, dậy con. Không biết có chuyện chi mà con cú cứ đỗ trên nóc nhà mình kêu nhiều rứa không biết?. Mình dậy , ra sân rồi an ủi mẹ: Nỏ răng mô mẹ ạ. Cú đi ăn đêm lạc đường nên hắn kêu đó thôi. Nói là nói vậy chứ mình cũng thấy lo lo.
Bảy giờ sáng, anh Giáp chạy thư của xã gọi mình ra lấy điện tín. Bức điện tín chỉ có 7 chữ: Bính ốm nặng, vô ngay BV tỉnh/ Hường
Mình đưa bức điện cho cha rồi chạy qua nhà anh Đại mượn xe đạp một mạch vô bệnh viện Thạch Hương. Chị Hường quê Đồng lộc, bạn TNXP với anh đứng chờ mình ở cổng bệnh viện khóc òa khi thấy mình: Anh Bính chết rồi Mão ơi!. Mình ném xe ở cửa bệnh viện chạy theo chị ấy vào nhà xác. Anh nằm thẳng trên mình đắp tấm vải trắng, hai tay đặt lên bụng. Mình ào vô ôm lấy anh mà thét: Anh! Anh ơi, răng lại a ri rứa trời?
Chị Hường đứng ngoài cửa ngó vô: thôi, để cho anh nớ yên đi Mão ơi.
Bỗng dưng, mình thấy anh cử động rồi mở mắt ra nhìn mình: Mão à, răng em còn ở đây chưa về? Ở mô đây mà túi om ra ri?
Mình bỏ anh đó, chạy ra khỏi cửa nhà xác kêu toáng lên: Anh tui còn sống , răng mấy người lại bỏ anh vô nhà xác. Các y tá chạy ùa vào bỏ anh lên xe đẩy chở anh về phòng điều trị. Chị Hường nắm chặt tay anh tôi mà khóc vì mừng. Rồi chị ấy chạy đi mua phở cho hai anh em tôi. Trong khi tôi đút cho anh ăn thì chị ấy lại ra bưu điện báo tin về nhà để cha mẹ tôi yên tâm.
Một anh bạn cùng đoàn đi du học với anh kể cho tôi nghe chuyện anh bị ốm. Khoảng 18 giờ chiều hôm qua, sau khi từ quê vào, anh ấy ra giếng tắm sau đó ra căngtin ăn cơm rồi đi nằm vì kêu mệt. Khoảng 21 giờ bỗng nhiên thấy anh giật bắn người từ trên giường rơi xuống đất và giật liên tục. Mấy anh em cùng phòng lấy võng cáng anh vô bệnh viện. Nửa đêm anh ấy tắt thở. Các bác sĩ bảo anh ấy bị sốt rét ác tính nên không chữa kịp. Vật là họ đưa anh vào nhà xác. Mở cuốn sổ tay nhỏ bỏ trong túi anh ấy, chúng tôi nhìn thấy địa chỉ và số điện thoại của nhiều người, trong đó chị Hường là người gần đây nhất nên chúng tôi điện báo cho chị ấy.
Nằm viện một tuần thì anh bình phục. Chuyến đi du học của anh bị trễ. Vậy là lỡ mất cơ hội hiếm có. Mình lại đèo anh về quê trong nỗi buồn tê dại…( Còn tiếp)
CHI DÂU
Chị dâu
Chị về làm dâu gia đình tôi năm 24 tuổi. Sau ngày cưới một tuần, anh tôi về lại cơ quan công tác. Làm dâu trong gia đình bố mẹ chồng đều già yếu, lại đông em nên chị lúc nào cũng tất bật
Chị về làm dâu gia đình tôi năm 24 tuổi. Sau ngày cưới một tuần, anh tôi về lại cơ quan công tác. Làm dâu trong gia đình bố mẹ chồng đều già yếu, lại đông em nên chị lúc nào cũng tất bật
Chị có dáng người to cao, nước da nâu và
mái tóc dài quá lưng. Tôi chưa bao giờ thấy chị kêu mệt hay đau ốm. Mọi việc dù
nặng nhọc đến mấy, chị làm nhoáng cái là xong. Làng trên xóm dưới ai cũng quý
mến chị.
Các anh chị tôi lần lượt gia nhập quân
đội. Mọi việc trong nhà đều do chị dâu tôi làm. Hồi đó, quê tôi nghèo lắm. Bữa
ăn chủ yếu là khoai sắn độn. Đến bữa ăn, chị ngồi đầu nồi chọn xới từng hạt cơm
cho bố mẹ và em, còn mình ăn khoai, sắn. Mẹ tôi cứ nhìn chị mà nước mắt lưng
tròng.
Bố mẹ tôi không được khỏe, chị vừa lo
thuốc thang, rau cháo vừa lo việc đồng áng. Tôi là con út, vừa nhỏ vừa yếu nên
chị không bao giờ cho tôi đụng tay vào bất cứ việc gì. Chị bảo: “Công việc của
em là học tập. Không học là không làm được gì hết!”.
Là một đảng viên trẻ, ngoài việc gia
đình, chị còn gánh vác công tác Đoàn Thanh niên của làng. Chiến tranh phá hoại
miền Bắc của Mỹ ngày càng khốc liệt. Quê tôi trở thành “túi” đựng bom đạn. Chị
dâu tôi luôn có mặt ở những nơi bom Mỹ vừa trút xuống. Chị là người đầu tiên
lao vào cứu người, cứu tài sản bị bom vùi. Thương chị vất vả, tôi giành lấy
việc nhà nhưng chị kiên quyết không chịu. Anh tôi mỗi năm chỉ có mấy ngày phép
nên cũng chẳng giúp được gì.
Chín năm sau ngày cưới, chị mới sinh con
đầu lòng. Cháu được một tháng thì tôi vào bộ đội. Ngày tôi nhập ngũ, chị không
ngủ. Mới ba giờ sáng, chị dậy bắt gà làm thịt, nấu cơm nếp để cả nhà liên hoan
tiễn tôi lên đường. Chị tiễn tôi lên tận nơi làm lễ giao quân cách nhà cả chục
cây số. Chị luôn động viên: “Em cứ yên tâm huấn luyện và lên đường chiến đấu. Ở
nhà đã có chị lo”. Tôi ghé tai chị nói nhỏ:" Em đi rồi, có gặp Thìn Tùng, nhờ chị nói với cô ấy là em rất yêu cô ấy. Ở nhà em chưa dám gặp và nói lời yêu vì em sợ cô ấy chê nhà mình nghèo. Hoàn cảnh nhà mình thì chị biết rồi đó. Chỉ chỉ nói cho Thìn biết thôi nha, ngoài ra không để ai biết em yêu cô ấy nha chị.

Ảnh minh họa. Nguồn: Internet
Ngày miền Nam
giải phóng, tôi rời quân ngũ về quê với chỉ một lá phổi lành lặn trong lồng ngực. Còn một lá phổi đã bị dập vì sức ép của bom Mỹ. Chị
lại bắt tôi học ngày học đêm để thi vào đại học: “Em phải học và kiếm lấy cái
nghề. Công việc nhà nông vất vả, em không trụ nổi đâu!”.
Ra trường, tôi trở lại miền Nam nhận công
tác. Năm tháng dần trôi, bố mẹ tôi lần lượt ra đi trong vòng tay của chị. Đến
ngày anh đón chị ra Hà Nội đoàn tụ gia đình cũng là lúc tóc chị đã bạc trắng và
những nếp nhăn đã phủ đầy khuôn mặt.
Hôm ấy, đang trên đường đi công tác vào Nha Trang, tôi nhận được
điện thoại của chị. Chị gọi: “Mão ơi, chị nhớ em lắm. Chị bị ung thư phổi em ạ.
Nhưng em đừng lo, chị không sao đâu. Chị không đau bằng em đâu vì phổi chị vẫn
còn nguyên, còn em thì chỉ còn một nửa. Chị muốn gặp em một lần. Em ra nhanh
nhé, chị chờ!”.
Chuyến tàu tốc hành hôm ấy bị trễ vì mưa lớn làm tuyến đường sắt Bắc –Nam sạt lở. Hai
ngày sau, tôi mới về đến Hà Nội. Bức di ảnh chị dâu trên bàn thờ nhìn tôi. Tôi
bùi ngùi thắp nén nhang và quỳ xuống trước di ảnh chị để xin chị thứ lỗi vì đã
có lúc lãng quên công lao chăm lo và dạy bảo của chị.
Chuyến tàu tốc hành hôm ấy bị trễ vì mưa lớn làm tuyến đường sắt Bắc –
Đã hơn mười năm chị dâu đi xa, cứ mỗi
mùa Vu lan về, tôi lại thắp lên bàn thờ ba nén nhang để cầu mong cho bố, mẹ và
chị dâu tôi luôn bình yên nơi cõi vĩnh hằng.
Lỗi hẹn
LỖI HẸN
1
Cô gái bí ẩn
Tôi bật máy tính và đăng nhập vào trang blog của mình. Có đến 56 bạn vào góp ý cho bài viết “Nụ cười con gái”
của mình. Ai cũng khen tôi viết giống như một nhà văn thực thụ.
Tôi để ý đến góp ý của cô gái có nick
“Hoa Hồng Trắng”. Cô ta không khen, không
chê. Cô ta viết có mỗi câu cụt ngủn: “Bác Mèo ơi, bác đã thấy con gái khóc bao
giờ chưa?”.
Tôi
tò mò mở sang trang blog của cô ấy. Một loạt bài viết nói về Trang nhật ký của
mẹ được chọn phông chữ nghiêng đều tăm
tắp và tỉa tót cẩn thận. Tôi lần mở trang giới thiệu của cô gái ấy. Trang giới
thiệu cũng ngắn gọn và đơn giản: Nickname: Bông Hồng trắng. Địa chỉ: Thủ Dầu
Một. Giới tính: nữ, 34 tuổi, không cha, không mẹ. Hết.
Tôi
suy nghĩ một lúc rồi viết vào lưu bút: “
Cháu là ai? Bác muốn kết bạn với cháu nếu cháu đồng ý.”
Ba hôm sau, tôi nhận được lưu bút: “ Cháu đồng ý. Cháu tên là Thiên
Bình, sống rày đây mai đó trên mọi nẻo đường của thành phố Hồ Chí Minh. Ba cháu
là ai cháu không biết và không thể tìm được ba vì thời gian không chờ đợi
cháu.”
Cô gái này đã gợi trí tò mò của tôi. Cái
tên Thiên Bình sao mà nghe quen quen. Tôi đã từng nghe ai đó một lần nhắc đến
cái tên Thiên Bình.
Đêm khuya lắm rồi. Tôi không thể chợp mắt.
Tôi ngồi dậy bật máy tính lên. Không có bloger nào trên mạng. Tôi bật sang
Yahoo messenger. Chẳng có người quen nào đỏ đèn tín hiệu. Tôi lại lên giường
nằm.
Tôi nhớ lại năm 1971. Hồi đó đơn vị tôi được lệnh hành quân
vào Đồng bằng Nam Bộ chiến đấu. Sau lần tập kích vào khu căn cứ Bù Đốp, tôi
bị lạc đơn vị. Lang thang trong rừng
hàng tuần, tôi lần về một làng nhỏ ở Phước Long. Vừa khát, vừa đói, tôi đã gục
xuống và ngất xỉu bên một nương sắn. Khi tỉnh dậy tôi thấy mình đang nằm trong
buồng một ngôi nhà nhỏ che bằng tôn cũ. Người ngồi cạnh tôi là một bà mẹ trên
năm mươi tuổi. Nét mặt phúc hậu pha lẫn
chút lo lắng, bà nhìn tôi và bảo:
- Con có phải bộ đội Giải phóng
không? Sao lại nằm mê man bất tỉnh bên rẫy của má vậy?
Tôi
nhìn mẹ thở phào và có cảm giác đây là một người mẹ đã và đang che chở cho mình.
- Chào má, dạ con bị lạc đơn vị.
- Vậy hả, má cũng đoán vậy. Cũng
may con gái má gặp và dìu về không thì
chết rục trrrn rẫy không ai biết.
Nước mắt tôi trào ra. Tôi thực sự
cảm động và chỉ biết cám ơn má. Má sờ lên trán tôi và bảo:
- Con đang sốt cao nè. Má bảo em nó đi tìm thuốc cho con
đó. Cố ngủ đi con.
Để má nấu cháo lát nữa dậy ăn rồi còn uống
thuốc.
Nước mắt tôi lại chảy vì cảm động. Rồi tôi lại
thiếp đi vì mệt.
Có tiếng con gái gọi nho nhỏ: Chú bộ đội ơi,
dậy ăn cháo nè.
Tôi mở mắt. Trước mặt tôi là một cô gái cao cao,
thon nhỏ. Cô có nước da trắng mịn với mái tóc xõa ngang vai trông thật giống
một nàng tiên. Cô mặc chiếc áo bà ba đen rộng cổ để lộ khoảng da trắng ngần.
Đôi mắt to, đen, ngượng ngùng quay đi khi bắt gặp cái nhìn trìu mến của tôi.
Tôi xấu hổ ngoảnh mặt ra cửa gọi: Má ơi, con dậy rồi.
Má
giới thiệu với tôi: - Má là Sáu còn đây là Trang, con gái út của má. Má chỉ
toàn con gái không hà. Chị Hai và chị Ba nó đã đi lấy chồng. Má còn mỗi mình nó
thôi đó. Còn con, thứ mấy?
- Dạ, con thứ ba.
- Mang nước và khăn mặt cho thằng Ba rửa mặt
mũi, tay chân đi con - má bảo con gái.
Trang bưng vào cho tôi một thau nhỏ nước và
khăn mặt bảo tôi rửa tay, rửa mặt để ăn cháo và uống thuốc. Tô cháo nóng của má
và Trang đã làm cho tôi tỉnh hẳn. Ăn xong, tôi xin phép má và Trang để tiếp tục
đi tìm đơn vị.
- Không được, con còn yếu lắm. Hãy ở lại thêm
mấy hôm, khi nào khỏe hẳn má sẽ cho em dẫn con về đơn vị. Ở đây tình hình phức
tạp. Quân của ông Thiệu lùng sục hoài à. Nguy hiểm lắm đó con.
Cứ chiều chiều tôi lại lên cơn sốt. Bao nhiêu
chăn mền trong nhà má tấp hết lên người tôi mà vẫn run bần bật. Má và Trang
nhìn tôi thương hại.
Có hôm
sốt cao quá, hai hàm răng tôi cứ va vào nhau lập cập. Hai má con cô ấy ôm chặt
tôi trong bó mền đến ngộp thở. Rồi cả hai má con cùng khóc. Ngày hôm sau má
vắng nhà đi đâu không rõ. Trang ngồi canh cho tôi ngủ. Tôi không thể nào nhắm
mắt được. Trang bảo tôi:
- Chú ngủ đi cho khỏe, Má đi cắt thuốc cho chú
rồi đó.Vài ngày nữa Trang sẽ đi tìm đơn vị cho chú.
Trang ngồi ở mé giường kể cho tôi nghe bao nhiêu
là chuyện. Trang kể má bắt cô ấy lấy chồng cho má nhờ nhưng cô ấy không nghe.
Trang bảo: - Ai đời, mới mười chín tuổi mà đã lấy chồng. Mắc cỡ lắm!
Tôi cười: - Đẹp như em lấy chồng lúc nào mà
chẳng được. Trang lườm tôi rồi cự nự:
- Ở đây không thích nịnh đâu à nha.
- Không nịnh đâu. Em đẹp thật đó. Anh đã đi
từ Bắc vào Nam mà chưa một lần thấy ai
đẹp hơn em. Nói rồi tôi ngồi dậy nắm bàn tay Trang kéo vào lòng mình. Trang co
người, nhìn ra ngõ như sợ ai nhìn thấy rồi rụt tay lại.
- Đừng chú! Đừng làm Trang sợ.
Những hình ảnh của quá khứ đang hiện lên trước
mắt tôi như một bộ phim chiếu trên màn ảnh rộng.
- Ngủ đi anh, khuya rồi! Tiếng gọi của vợ làm
tôi giật mình. Tôi nằm xuống. Cô gái có cái tên Thiên Bình cứ luẩn quẩn trong
đầu tôi.
Tôi ngủ một mạch cho đến
khi vợ đi chợ về gọi dậy ăn sáng. Tôi ngái ngủ hỏi vợ: - Mấy giờ rồi em ? Từ
trong bếp tiếng vợ vọng lên: - Hơn chín giờ. Thôi đừng ăn sáng nữa. Đợi em nấu
xong rồi mình ăn trưa luôn nha anh.
Tôi lại bật máy tính lên. Đèn tín hiệu ở
trang blog của Bông Hồng Trắng sáng lên. Tôi gõ: “ Sáng nay cháu không đi làm
à?”. Câu trả lời: “ Cháu làm đêm mà. Bác ngủ giờ mới dậy à? Bác sướng nhỉ. Bác
ơi, bác vào đọc blog của cháu và nhớ để lại com. nghe .
- Rồi, bác sẽ đọc. Nhưng cháu hãy nói cho bác
biết cháu hiện làm nghề gì ở Thành phố Hồ Chí Minh ? Công ty của cháu là công
ty gì vậy? Cho bác số điện thoại của cháu được không?
- Bí mật! – cô gái tắt máy ngay tức thì.
Tôi mở entry đầu tiên của cô gái Thiên Bình để
đọc. Đầu đề của bài viết chỉ có mỗi chữ: “MẸ !”
“ Đây là cuốn nhật
ký của Mẹ mà Ngoại đã trao cho mình trước khi nhắm mắt.Ngoại nói trong nước
mắt: Mẹ con bảo ngoại đưa cho con khi nào con khôn lớn. Bây giờ Ngoại phải đi
và ngoại giao nó cho con. Con cố mà đi tìm ba đẻ của con. Ba con là bộ đội Giải
phóng... Bông Hồng Trắng xin gửi tập nhật ký của Mẹ tới người mà Thiên Bình gọi
là ba để nếu người ấy còn sống ở đâu đó trên trần gian này và trái tim của
người đó còn biết rung cảm.”
... Ngày...tháng...năm
1972: Cám ơn Trời Phật đã cho mình gặp anh. Anh mặc bộ đồ bà ba đen, da xanh,
môi tím tái nằm ngất xỉu dưới chân núi Bà Rá. Chờ cho mặt trời khuất núi mình
mới dám dìu anh về nhà. Khi anh tỉnh dậy trông anh hiền ơi là hiền. Hiền đến là
dễ thương. Mình đã gọi anh bằng chú. Anh nhìn mình rồi cười.
Ngày...:
Anh sốt cao. Mình quấn mền cho anh mà anh vẫn run. Mình và má thương anh rồi
khóc. Mình chẳng biết làm gì để anh hết sốt. Hai má con chỉ biết nằm đè lên
người anh để anh bớt run. Nghe hai hàm răng anh va vào nhau cầm cập mà mình đứt
từng khúc ruột.
Ngày...tháng...năm: Má đi lên tận Phú Riềng gặp thầy lang bốc thuốc cho
anh. Má về bắt mình đào giun đất rửa sạch bỏ vào ấm chè xanh sắc lên bắt anh uống.
Má bảo thầy lang phán vậy. Thấy những
con giun đất ngo ngoe mình sợ không dám bắt. Nhưng khi nghĩ đến anh đang bệnh,
mình không còn sợ nữa.
Ngày...tháng...năm:
Anh kéo tay mình đưa lên má anh ấy. Mình sợ. Anh xin lỗi mình và má anh đỏ gay.
Thế mà mấy người cứ bảo Việt Cộng ác lắm. Gặp con gái họ sẽ hãm hiếp và sau đó
họ sẽ giết chết. Không biết anh có phải Việt Cộng không nhỉ? Nhất định anh là
Việt Cộng rồi vì má mình bảo: thằng Ba là bộ đội Giải phóng! Bộ đội Giải phóng
là con em của dân mình. Hèn chi anh ấy hiền lành và trong sáng đến vậy.”...
Thôi!
Đúng rồi! Đúng là Trang ngày ấy rồi. Tôi hét to và chạy vào bếp gọi vợ ra để
đọc tiếp cho cô ấy nghe. Vợ tôi ngơ ngác chẳng hiểu gì cả.
Tôi gõ vào ô lưu bút: “Hoa Hồng Trắng ơi, con
đâu rồi. Con là Thiên Bình, là con gái của ba ! Con ơi!”.
Tôi
mở trang Blog của cô gái có cái nick “Bí rợ”. Đã có lần Thiên Bình và bạn bè
tôi kể cho tôi nghe về Bí Rợ. Bí Rợ đã ngoài 50 tuổi.Cô ấy nhận Hoa Hồng Trắng
làm con nuôi trên mạng. Tôi nhắn tin cho cô ấy: “Em tìm Thiên Bình và đưa cháu
về nhà em giúp anh. Anh có việc quan trọng cần gặp mặt cháu trong ngày mai.” Cả
ngày hôm đó tôi không thèm ăn uống gì cả. Tối đến, Bí Rợ gọi điện cho tôi. Cô
ấy bảo : “Em không biết cháu ở đâu cả. Cháu không cho em địa chỉ nơi ở và cả số
điện thoại của nó. Có chuyện gì vậy anh?” Tôi không thể nói cho Bí Rợ biết qua
điện thoại. Tôi hẹn khi gặp sẽ kể hết cho cô ấy nghe.
Tôi nhờ
con gái lấy vé máy bay và bay vào Sài Gòn
sau đó hai ngày. Xuống sân bay tôi bắt taxi chạy thẳng đến nhà Bí Rợ.
Chồng cô ấy đón tôi niềm nở rồi bảo: - Bà xã tôi đi công tác nước ngoài đột
xuất. Cô ấy bay vào 12 giờ đêm hôm qua nên không kịp điện thoại cho anh. Có gì
anh cứ nói với tôi. Tôi sẽ thay mặt cô ấy đáp ứng mọi yêu cầu của anh.
Tôi
thất vọng vô cùng. Tôi không thể kể cho chồng Bí Rợ chuyện riêng bí mật này
được. Tôi nhờ anh gọi giúp taxi để đi
lên Phước Long - nơi má con Trang đã cứu sống tôi 37 năm về trước. Thị xã Phước
Long giờ thay đổi nhiều quá tôi không nhận ra lối cũ. Hỏi thăm về Trang và má Sáu
thì chẳng ai biết cả. Tôi lặng lẽ trở lại Sài Gòn. Bạn bè tôi cứ khăng khăng
không cho tôi về nếu không nói cho họ biết vì sao phải gặp được Bí Rợ. Tôi xin
phép họ được im lặng. Đêm đêm tôi đi khắp các ngã đường của thành phố. Sài Gòn
bây giờ rộng quá. Một thành phố tráng lệ và ồn ào. Tôi cứ đi tìm hết phố này
đến phố khác may ra gặp được Thiên Bình. Đã hai tuần lang thang tìm kiếm. Hai tuần rồi mà Bí Rợ vẫn chưa về.
Tôi đành lên tàu về nhà.
Tôi lại
mở máy. Trên ô lưu bút có nhiều câu hỏi giống nhau được viết từ ngày tôi vào
Sài Gòn cho đến tận ngày về: “Bác cho phép cháu gọi bác bằng Ba thật à? Cháu không xứng
đáng làm con gái của bác đâu. Bác không thể có đứa con hư hỏng như cháu được.”
Tôi viết trả lời: “Dù con có thế nào thì con vẫn là con gái của ba. Ba đã vào
Sài gòn tìm con hai tuần nay mà không
gặp.”
Tôi lại đọc. Nhật ký của
Trang có đoạn: “ Ngày...tháng...năm: Mình dấu anh để đi tìm đơn vị cho
anh. Nửa mình muốn anh ở lại với má con mình mãi mãi, nửa muốn anh trở về đơn
vị an toàn. Anh thường bảo với mình rằng: Không thấy anh trở về, họ nghĩ là anh
chết rồi nên sẽ gởi báo tử về quê. Biết tin anh chết bố mẹ anh không thể sống
nổi. Mình lên tận Trà Khiết, nơi có rất nhiều bộ đội đóng quân. Gặp ai mình
cũng hỏi có phải đây là đơn vị của anh Minh Thiên không. Các anh bộ đội ngắm
mình rồi bảo: Em đẹp thế mà không giữ được chồng à. Ở đây không có ai tên Thiên
cả. Ở đây chỉ có Địa thôi. Thôi về lấy chồng khác đi em ơi.”.
Tôi
không sao cầm được nước mắt. Những dòng chữ cứ nhòe đi trước mắt tôi. Tôi lấy
tay quệt nước mắt và đọc tiếp.
Ngày...tháng...năm:
Má dậy sớm nấu cơm và làm thịt gà. Anh lấy cái túi vải trắng bỏ cơm vào và nắm
chặt. Anh nắm thành hai nắm. Anh bảo nắm cơm mang đi rừng cho chắc ăn. Rồi má
cho mình đi cùng anh luồn rừng về Bù Đăng tìm binh trạm. Anh không muốn để mình
đi theo. Anh bảo sẽ rất nguy hiểm cho em nếu gặp thám báo. Anh đi một mình được
rồi. Mình không chịu, mình khóc. Anh lau nước mắt cho mình rồi ôm mình thật
chặt. Anh bảo anh thương mình và quý má lắm. Giải phóng miền Nam anh sẽ quay
lại xin phép má cho anh làm rể và đón mình về quê ra mắt bố mẹ. Rồi anh hôn
mình. Lần đầu tiên mình được hôn. Bờ môi của anh ấm áp đến lạ lùng. Bên anh,
mình cảm thấy yên tâm vô cùng. Mình vờ dỗi anh, anh lại xin lỗi và bảo: lần đâu
tiên anh được hôn một người con gái. Em đừng giận anh mà tội nghiệp. Rồi anh
bắt mình trở về nhà. Mình đứng nhìn anh đi khuất mới lủi thủi trở lại. Mình đã
yêu anh thật rồi!
Tôi nhớ lại hôm ấy, sau hai ngày luồn rừng tôi tìm
được đến Binh trạm của Trung ương Cục Miền Nam. Sau khi làm thủ tục khai báo.
Họ cử giao liên đưa tôi về đơn vị cũ của mình. Tôi đã kể hết cho Thành, người
bạn cùng quê nghe về câu chuyện thần kỳ của mình trong thời gian tá túc ở nhà
má Sáu và Trang.
Thời
gian thấm thoắt trôi đi. Nhiều lần muốn về lại Phước Long thăm mẹ và em nhưng
không thể. Đơn vị tôi chuyển địa điểm đóng quân liên tục. Muốn gửi thư cho Má
và em nhưng không có ai về Phước Long để gửi. Nỗi nhớ má Sáu và Trang cứ cồn
cào trong lòng.
Một buổi sáng miền Đông Nam
bộ, trời xanh trong đến tận cùng. Chim rừng ríu ra ríu rít thật vui tai. Tôi và
Thành được gọi lên Sư đoàn bộ gặp Chính ủy. Tôi lo lắng, không biết có việc gì
đã xẩy ra với hai đứa. Hay ai đó tố cáo mình lăng nhăng với cô gái ở Phước Long
trước đây. Thành có biết mà không báo cáo cho Sư đoàn nên bị vạ lây? Không!
Mình biết ơn họ không hết vì họ đã cứu sống thì tại sao mình lại dám... Đang
nghĩ vơ nghĩ vẩn thì đồng chí liên lạc
bảo ngồi ở lán tiếp khách chờ thủ trưởng. Hai đứa chúng tôi nhìn
nhau sốt ruột.
- Chào hai
đồng chí.
Chúng tôi đứng bật dậy. Chính ủy
mỉm cười và chỉ ghế bảo:
- Ngồi xuống đi.
Rồi ông hỏi chúng tôi có nhớ nhà
không? Cuộc chiến đấu đã đến hồi quyết liệt, hai đồng chí có sợ không?v.v và
v.v....
- Tôi cho gọi hai đồng chí lên để
giao nhiệm vụ mới đây. Hai đồng chí là người có thành tích trong chiến đấu. Nay
sư chuyển đồng chí Thành đi học lớp lái xe cấp tốc để phục vụ ngoại giao đoàn. Đồng
chí Thiên được chọn đi tập huấn công tác tiếp nhận và trao trả tù binh do Ban
Chính trị của Trung ương Cục Miền Nam tổ chức. Hai đứa chúng tôi ngỡ
ngàng và mừng không tả nổi. Các đồng chí về đơn vị làm thủ tục để đi nhận nhiệm
vụ ngay.
Tôi được đi dự lớp tập huấn ngắn
hạn do Trung ương Cục đào tạo và được biên chế vào Ủy ban hòa giải dân tộc của
Mặt trận Dân tộc Giải phóng miền Nam Việt nam. Sau khi được tập huấn, tôi được
trực tiếp đến các trung tâm cải tạo ở cả
hai miền Nam Bắc để thu nhận danh sách tù hàng binh Việt nam cộng hòa đang được
Nhà nước ta giam giữ cải tạo. Ngày 27 tháng 1 năm 1973, hiệp định Pari về Việt
nam được ký kết , trên đường từ căn cứ
Bù đăng về Sài gòn, tôi lại được gặp Thành - người bạn thân cùng quê và cùng
đơn vị cũ và chính Thành là người lái xe đưa tôi đi. Được đồng chí trưởng đoàn
cho phép, Thành đưa tôi ghé thăm gia đình Má Sáu .
Đến nơi, Thành chỉ kịp vào nhà chào Trang rồi phải về ngay. Vừa nhìn
thấy Trang, Thành nheo mắt nhìn tôi và giơ ngón tay cái lên gật. Thành ghé tai
tôi thầm thì:- Tuyệt vời !Cố lên!
Má đi thăm chị Hai. Chỉ mỗi mình Trang ở nhà. Chờ Thành lên xe, em ôm
chặt lấy tôi làm tôi nghẹt thở. Em cười. Nụ cười làm lòng tôi rạo rực. Nước mắt
em giàn giụa.
Em trách tôi không về thăm má,
không nhắn tin cho má và em. Rồi em vội vội vàng vàng đi bắt gà làm thịt nấu
cơm. Tôi không cho em đi đâu hết. Tôi bắt em ngồi trước mặt tôi hàng giờ để tôi
ngắm em. Tôi nắm bàn tay thon nhỏ trắng mềm của em đặt lên má, lên cằm lởm chởm
râu của mình. Tôi hôn bàn tay mềm mại của em. Trời tối mịt, hai đứa chúng tôi
mới đi nấu cơm. Mừng quá, hai đứa không muốn ăn, chỉ ngồi nhìn nhau không biết
đói là gì nữa.
Đêm ấy, trăng mười sáu tròn vành vạnh. Trời Phước Long không một gợn
mây. Chúng tôi cứ ngồi bên nhau cho đến khi sương xuống lành lạnh. Tôi ngâm thơ
và hát những bài hát viết về quê tôi cho em nghe. Em khen tôi ngâm thơ hay mà hát cũng hay. Tôi nhớ hôm đó tôi đọc
cho em nghe bài thơ mà tôi không nhớ tác giả:
“ Người yêu tôi chưa hai chục tuổi.
Giọng hò trong như nước sông trong.
Sông nước quê hương tắm mịn má
hồng
Áo trắng màu hoa sen trắng.
Tóc rũ hàng dương, sông dài biển
lặng
Cuộn lên mưa nắng đợi chờ.”
Tôi nhìn em và hỏi: -“ Em có đợi anh không? Giải phóng miền Nam, anh sẽ
về xin phép má cho anh làm rể và anh sẽ xin má đưa em về quê ra mắt bố mẹ ạnh.
Làm vợ anh em nhé.” Em ôm chặt tôi, đặt đôi môi nóng hổi lên môi tôi và thầm
thì: “ Em cũng không biết nữa...”
Tôi tạm biệt em trở về nơi làm việc. Sau khi trao
trả xong lính Mỹ ở Lộc Ninh, chúng tôi lại quay ra Gia Lâm để trao trả phi công
Mỹ bị quân và dân ta bắn rơi máy bay và bắt sống tại miền Bắc. Rồi chúng tôi
lại vào Thạch Hãn – Quảng Trị để trao
trả và tiếp nhận tù binh của hai phía.
Làm xong nhiệm vụ trao tả tù binh, tôi xin
phép được trở lại đơn vị cũ và trở lại chiến trường chuẩn bị cho đợt tấn công
cuối cùng vào sào huyệt của ngụy quân
Sài Gòn. Từ Buôn Mê thuột đoàn quân của chúng tôi tiến như vũ bão về Nam Trung
Bộ. Trước giờ G, tôi được Thành xin phép cấp trên lái xe đưa tôi về thăm Phước
Long vì lúc này Phước long đã là vùng
giải phóng. Buổi trưa cuối Xuân, tiết trời Phước Long oi ả. Tôi xuống xe, còn
Thành tiếp tục lên Trà Khiết có việc. Má Sáu không có nhà. Em ra ngõ đón tôi.
Em lộng lẫy trong chiếc áo trắng màu hoa sen
rộng cổ. Chúng tôi ôm nhau trước những ánh mắt tò mò của người đi đường.
Em hỏi tôi ở lại được lâu không ? Má nhắc anh hoài à. Má nhớ và thương anh lắm.
Tôi bảo : chỉ gặp em được hai tiếng đồng hồ thôi. Anh phải về đơn vị ngay để
chuẩn bị cho cuộc chiến cuối cùng. Em lại khóc. Em nũng nịu: - Em không cho anh
đi đâu hết.
Và cái trưa hôm ấy đã mãi
mãi đi vào nỗi nhớ trong tôi. Em đã giành cho tôi sự ngây thơ trong trắng của
người con gái Phước Long. Chúng tôi đã trao nhau tất cả. Em ghé tai tôi: - Sau
này có con, em sẽ đặt tên cho nó là Thiên Bình. Anh là Minh Thiên ( trời sáng )
con của chúng ta là Thiên Bình (bầu trời
bình yên). Anh thấy em đặt tên con như vầy có được không ?
Tôi gật đầu và cảm ơn em đã giành tất cả cho
tôi và từ biệt em lên xe trở về cứ.
Ngày 30 tháng Tư, từ Xuân Lộc
đơn vị chúng tôi ào ạt tiến về sài Gòn. Khi vừa băng qua cầu Sài gòn tôi
bị mảnh đạn trúng vào đầu và ngực bất tỉnh.
Tôi được chở ngay đến bệnh viện Chợ Rẫy cấp cứu. Vết thương tạm ổn, tôi
được chuyển ra bệnh viện Quân Khu B. điều trị.
Hai năm trời ở bệnh viện, tôi lúc tỉnh lúc mê.Vết thương hồi phục, tôi
được chuyển về điều dưỡng tại Trại thương binh nặng của Quân khu. Tôi hoàn toàn
mất trí nhớ. Năm sáu năm điều dưỡng ở đây
trí nhớ của tôi mới dần dần hồi phục. . .
Điện
thoại của tôi đổ chuông. Bí Rợ gọi tôi. Cô ấy đi công tác về và thông báo cho tôi là cô ấy đã nhắn cho
Thiên Bình đến nhà cô ấy. Cô ấy tấm tắc khen vẻ đẹp Thiên Bình chẳng khác gì thiên thần. Cô ấy bảo: “ Cháu
xanh và ốm lắm. Giữ cháu ở lại để em chăm sóc nhưng cháu không chịu. Nó hỏi em
đã gặp bác Mèo chưa? Bác ấy vào Sài Gòn tìm con thật hả hả má ? Tiếc qúa má ơi.
Chắc là bác ấy buồn vì con lắm. Rồi nó
ôm mặt khóc. Ai dổ cũng không nín. Nó chỉ ở với em có nửa tiếng đồng hồ thôi.
Nó bảo má đừng tìm nó. Khi nào cần nó nhắn má. Em đưa điện thoại bảo nó nói
chuyện với anh mà nó hổng chịu. Con bé thiệt
là!...
Tôi lại mở Blog Bông Hồng trắng ra đọc.
Ngày...tháng...năm: Bỗng dưng nhớ anh đến lạ
lùng. Nhớ từng tiếng láy khi anh ngâm thơ. Kiểu ngâm thơ Miền Trung của anh sao
mà ngọt ngào ấm áp đến vậy. Anh bảo anh thích nhất bài thơ Quê hương của Giang
nam. Còn mình thì thích anh ngâm bài thơ Vòng lá ngụy trang vì bài đó nói về
người lính. Mình nhớ anh dạy mình thêu gối, dạy làm thơ và dạy cả câu cám ơn
bằng tiếng Nga nữa.
Ngày...tháng...năm: Chiều nay anh về. Má
không có nhà. Đêm nay chỉ mỗi mình và anh trong ngôi nhà nhỏ. Anh bắt mình ngồi
vào lòng và kể chuyện gia đình anh ngoài Bắc cho mình nghe. Anh không hề đòi
hỏi ở mình bất cứ một điều gì. Kể cả cái điều mà mình rất sợ ấy. Anh thật trong
sáng, thông minh và lãng mạn.
...
Ngày...tháng...năm:Anh
lên xe, mình chạy ùa vào nhà rồi khóc. Mình thương anh vất vả. Ngày mai đơn vị
anh tiến vào giải phóng Sài gòn. Cầu mong anh bình an.
Ngày kia má
về lại, không biết má có hay trưa nay mình và anh đã... không nhỉ? Má mà biết
chắc má giận lắm!
Ngày...tháng...năm:
Hình như giọt máu của anh đã lớn lên từng ngày trong mình. Ăn gì vào cũng buồn
nôn, nhất là mùi tanh. Má nhìn mình thương hại
hỏi: Thằng Ba đã biết hắn có con
chưa ?
Tôi
không thể đọc được nữa. Tôi gọi cho Bí
Rợ nhờ cô ấy đi tìm Thiên Bình về giúp. Bí Rợ ngái ngủ: Anh điên à. Bây giờ là
nửa đêm, mà Sài Gòn mênh mông thế làm sao mà tìm được. Tôi xin lỗi Bí rợ và đi
nằm.
Tôi
không ăn sáng. Vợ tôi không cho tôi vào mạng. Cô ấy bảo: Nhìn anh thê thảm lắm.
Thế này thì đổ bệnh mất thôi. Tôi im lặng.
Chờ cho vợ xách giỏ đi chợ, tôi lại bật máy
lên và vào mạng.
Đèn tín hiệu của Hoa Hồng Trắng không bật. Tôi
quay sang Blog của mình để viết một cái
gì đó. Trên ô lưu bút có dòng chữ ngắn
ngủi của Thiên Bình: “ Ba đừng giận con nghe. Con không dám nói chuyện điện thoại
với ba vì con chưa hề biết ba là ai. Con chỉ sợ ba cũng giống như ba dượng của
con vậy. Xin lỗi ba!”. Không viết được gì vì đầu óc tôi cứ rối tung
lên. Tôi chuyển sang trang của Thiên Bình để đọc.
Ngày... tháng... 1975: Mình bắt
xe lam về Sài Gòn tìm anh. Khắp các đường phố Sài Gòn rợp cờ đỏ sao vàng và cờ
Giải phóng. Người xe đổ hết ra đường mừng chiến thắng. Tìm anh ở đâu bây giờ?
Đúng rồi mình cứ vào chỗ Ủy ban quân quản hỏi chắc họ sẽ biết anh ở đâu. Đến
nơi, họ không cho vào. Họ yêu cầu xuất trình giấy tờ. Mình không mang theo gì
cả. Mình gặp một anh bộ đội đeo băng đỏ ở cánh tay: Anh Bộ đội ơi, cho em hỏi ở
đây có anh Minh Thiên, người quê H. không? Anh ấy cười: “ Em hỏi thế thì có
thánh mà biết”. Đang định quay đầu đi thì có một chiếc U oat biển số đỏ đỗ xịch
bên cạnh. Anh tài xế bước ra, trên cánh tay phải anh ấy cũng đeo băng đỏ. Mình
chạy chặn lại và hỏi: “ Anh ơi, anh có biết anh Thành, lái xe cho Đoàn Ngoại
Giao ở đâu không?”
Anh hỏi lại:- Có phải anh Đồng Xuân Thành không?
Mình gật đầu bừa vậy chứ biết anh ấy họ Đồng hay Sắt gì đâu.
Chờ một lúc
thì anh Thành xuất hiện. Anh ấy không vui khi gặp mình. Linh tính mách bảo với
mình sắp có chuyện rồi. Anh chìa tay bắt tay mình rất chặt với nét mặt trịnh
trọng:
- Em hãy bình tĩnh nghe anh nói đây. Hôm tiến
vào Sài gòn Thiên bị thương nặng được đưa cấp cứu rồi. Bây giờ anh cũng không
biết cậu ấy ở đâu nữa. Chắc cậu ấy không
sao đâu, em đừng lo lắng quá.
Mình không
còn nghe anh nói gì nữa. Đom đóm bay đầy trước mắt. Mình khuỵu xuống. Anh Thành
và các bạn anh ấy đưa mình vào nhà khách của Ủy ban quân quản nghỉ ngơi. Đến
chiều, anh Thành lấy xe đưa mình về nhà. Các anh ấy cho mình và má nhiều thuốc
tây, cả thuốc bổ nữa. Má không chịu
uống. Má bảo con uống thuốc cho khỏe cái thai trong bụng. Rồi Má lại khóc. Má
thương anh, không biết anh sống chết thế nào. Biết anh ở đâu mà đến chăm sóc
anh bây giờ?
Ngày...tháng...năm:
Chị Hai và chị Ba về. Biết mình mang bầu, các chị la dữ lắm. Chị Hai bắt mình
đi phá thai. Chị bảo làng xóm mà biết mày chửa hoang, họ ị vào mặt má và mặt bọn tao cho mà xem. Mình chỉ biết
khóc. Không đời nào mình lại nỡ vứt bỏ giọt máu của anh. Anh ơi, anh yên tâm
chữa trị. Khổ mấy em cũng chịu được.
Ngày...tháng...năm:
Kể từ lần chia tay anh đến nay đã tròn 11 tháng, mình không có tin tức gì về
anh. Anh Thành cũng không còn ở thành phố nữa rồi. Nghe đồn anh lại trở lại
miền Tây Bình Phước. Hình như biên giới lại sắp có chiến tranh. Chẳng biết bây giờ anh thế nào. Anh đã biết con gái
Thiên Bình của anh đã được tháng rưỡi và giống anh như lột không nhỉ?
Có tiếng
mở cửa, tôi nhìn ra thấy vợ đi chợ về. Cô ấy lên tiếng quát:
- Lại chat chít à ? Em xin anh đấy! Huyết áp
anh đang có vấn đề mà sao anh không nghỉ ngơi cho em nhờ?
- Anh không sao đâu. Anh khỏe mà. – tôi trấn an
vợ.
- Thiên Bình
có đó không anh? Con nó có nhắn gì anh không ?
Câu hỏi nhẹ nhàng của cô ấy làm tôi thực sự cảm
động.
– không
em!- tôi trả lời.
Mấy hôm nay, bạn bè quen biết trên mạng gọi
điện thoại cho tôi liên tục. Chúng nó tò mò muốn biết Hoa Hồng Trắng có đúng là
con gái tôi không? Tôi chỉ biết cám ơn bạn bè đã quan tâm đến tôi.
Đêm đêm, tôi không ngủ được. Cứ thấy bóng đêm
là nghĩ ngay đến Thiên bình. Tôi dằn vặt tự hỏi: tại sao Thiên Bình lại rơi vào
hoàn cảnh này. Liệu đây có đúng là Thiên Bình, con gái của tôi và Trang không?
Trang của tôi bây giờ làm gì, ở đâu mà tôi và bạn bè tìm hoài không thấy? Bạn bè tôi chỉ mỗi Thành là người biết Trang
và mối quan hệ của hai chúng tôi. Thành đã hy sinh trên đường đưa cán bộ của ta
sang chiến trường K năm 1977. Tôi chẳng biết hỏi ai bây giờ. Gặp Thiên Bình để
hỏi thì nó tránh mặt. Nhắn tin trên Blog
thì nó chỉ trả lời cộc lốc không đâu vào đâu cả. Ruột gan tôi như có kiến đốt.
Tôi lại điện cho Bí Rợ. Cô ấy cũng chẳng
có tin tức gì về Thiên Bình. Tôi gọi điện nhờ anh bạn có nick KC lần theo địa chỉ
ghi trong “ trang thông tin cá nhân” của Hoa Hồng Trắng để đến tận nơi xem thực
hư ra sao. KC vui vẻ nhận lời và làm một chuyến lên Thủ Dầu Một. Ở đây không ai
biết cô gái có tên Thiên Bình. KC là một doanh nhân nổi tiếng ở đất Sài Thành.
Anh ấy quen biết rất nhiều nhà hàng khách sạn ở thành phố Hồ Chí Minh. KC đã
nhờ bạn bè giúp đỡ tìm kiếm nhưng vì thông tin về cô gái có tên Thiên Bình quá
ít ỏi, lại không có bức ảnh nào để xem nên càng mịt mù như hũ nút.
Tôi vào
trang blog của Hoa Hồng Trắng. Đèn tín hiệu không đỏ. Tôi viết vào chỗ góp ý
dưới entry mới nhất: “ Con hãy nói cho ba biết hiện giờ mẹ con đang ở đâu và
làm gì? Dì Hai và Dì Ba con có khỏe không? Nhớ cho ba địa chỉ và số điện thoại
của mẹ hay của các dì nghe con. Ba rất sốt ruột và lo lắng cho mẹ con. Con nói
đi !”
Hai hôm
sau, tôi nhận được tin nhắn của Thiên Bình: “ Ba là ai mà lại biết dì Hai và dì Ba con? Ba cho con địa
chỉ E-mail của ba, con sẽ kể cho ba nghe.” Tôi vội vàng nhắn lại địa
chỉ E-mail của mình cho Thiên Bình và hồi hộp chờ đợi.
Một ngày, hai ngày rồi một tuần...rồi một tháng,tôi
không có bất cứ tin nhắn hai E-mail nào của Thiên Bình. Tôi thực sự lo lắng và
thất vọng.
Sau gần
5 tuần, Bí Rợ gọi điện cho tôi báo tin cô ấy nhận được tin nhắn Thiên Bình bị
bệnh nặng nhưng không cho biết đang điều trị ở bệnh viện nào cả. Tôi lập tức
thông báo tới các bạn tôi ở trong đó bủa đi đến các bệnh viện tìm Hoa Hồng Trắng
giúp tôi. Sau mười ngày tìm kiếm, tất cả đều báo tin cho tôi: không thấy !
Tôi mệt mỏi và chán nản không muốn lên mạng và
không muốn viết gì nữa. Một hôm, con gái tôi mở máy để lên mạng tìm số liệu cho
bài kiểm tra. Trước khi tắt máy nó hỏi:
- Ba ơi, ba có đọc báo không để con tắt máy?
Tôi ngồi vào bàn và mở hộp thư ra xem. Hộp thư
có một thư chưa đọc.
Tôi reo lên: Đây rồi, thư con đây rồi!
Thư Thiên Bình viết ngắn gọn, tôi đọc không bỏ
sót một chữ:
“ Ba, con
đã ngờ ngợ và linh cảm rằng con đã tìm được cha đẻ của mình. Nhưng con lại tự
hỏi: tại sao hơn ba mươi năm nay, ba không về với mẹ và con ? Hay ba không thực
lòng thương mẹ thương con và ba đã có một gia đình hạnh phúc khác rồi quên mẹ
con con?
Cô Bí Rợ đã
khuyên con gặp ba và nói cho ba tất cả nhưng con không thể. Nếu thực con là
giọt máu của ba thì dù sao khi biết rõ về hoàn cảnh của con ba sẽ đau lòng. Mà
con thì không muốn điều đó xảy ra. Con biết ba con bị thương nặng lắm. Lúc đó mẹ đang mang bầu
con. Vì vậy khi con lớn lên, Ngoại bảo con: ba mày chết rồi. Còn mẹ thì bảo
rằng ba con còn sống và đang phiêu bạt ở đâu đó. Có thể ba đã mất mát một phần
nào đó trên cơ thể nên không muốn về với mẹ con vì ba sợ mẹ khổ. Có phải thế
không ba? Mẹ con không trách ba đâu. Mẹ chỉ buồn và nhớ ba thôi.
Ba ơi,có lẽ con sẽ không bao giờ được nhìn
thấy ba đẻ của mình nhưng con luôn nghĩ ba đẻ của con lúc nào cũng trăn trở và
phiền muộn. Ba đẻ con là người rất phúc hậu. Có phải vậy không ba? Con không
còn nhiều thời gian để post toàn bộ những trang nhật ký thấm đẫm nước mắt của
mẹ lên blog. Con chỉ chọn những mốc thời gian với những kỷ niệm sâu sắc của mẹ
để đưa vào Blog thôi. Nếu Ba là ba đẻ thật của con, con sẽ gởi lại cuốn nhật ký
của mẹ cho ba khi nào điều kiện cho
phép.
Xin lỗi ba vì con không thể cho ba biết chỗ ở
và công việc của con. Dạo này sức khỏe con đang có vấn đề nên thu nhập của con
bị giảm sút. Không quan trọng đâu ba. Con tự khắc phục được. Ba không cần lo lắng cho con.
Kính mong Ba khỏe.
Con chào Ba
Thiên Bình.”
Đọc thư xong, ngực tôi như có ai bóp mạnh vào tim. Khó thở quá, tôi mở
toang hết cửa sổ mà vẫn cảm thấy như không đủ không khí để thở. Mặt tôi đỏ gay đỏ gắt. Vợ tôi hốt hoảng và vội vàng đo huyết áp cho tôi. Chết rồi,
huyết áp anh lại lên cao quá rồi 180/110. Cô ấy bỏ thuốc vào miệng tôi. Tôi
không còn biết gì nữa.
Tôi
tỉnh dậy và thấy mình nằm ở phòng cấp cứu của bệnh viện.
2
Tìm nhau
Sau năm năm kể từ ngày bị thương, tôi được ra khỏi trại điều dưỡng. Cầm
tờ Quyết định phục viên trong tay, tôi bồi hồi và cảm thấy hụt hửng. Hình như
mình vừa đánh mất một cái gì quý giá.
Khi trí nhớ dần dần hồi phục, tôi đã
xin phép trại điều dưỡng được đi vào Nam một chuyến để tìm gặp Má và
Trang. Hình như tình yêu là liều thuốc thần hiệu nghiệm đã làm cho những thương
binh chúng tôi quên đi đau đớn. Tình yêu đã giúp cho chúng tôi vượt qua sự thất
vọng chán nản vì những vết thương quái ác.Tình yêu của tôi đối với Trang đã
giúp tôi phục hồi trí nhớ. Tôi khắc khoải mong được gặp em nhưng trại không cho
đi vì vết thương ở sọ não hay bị tái phát. Tôi cắn răng chờ đợi.
Năm năm – một khoảng thời gian khá dài của
nỗi nhớ. Năm năm tôi đã chuyển từ bệnh viện này đến bệnh viện khác mà trí nhớ
vẫn không thể hồi phục. Khi tỉnh tôi lại muốn mình mê. Mê để rồi quên đi mọi
thứ. Mê để rồi quên đi người con gái, quên đi mối tình đầu đầy sóng gió của đời
tôi. Nhưng khi đã tỉnh thì tôi lại không muốn quên những kỷ niệm ngọt ngào của
một thời chinh chiến.
Cầm tờ quyết định trong tay, tôi đến từng
phòng để chia tay những đồng đội của tôi đang mang trong mình những vết thương
quái ác. Nhiều người nhìn nước mắt tôi giàn giụa rồi cười toáng lên. Họ cười
rồi lại khóc. Cả phòng cùng khóc. Cả trại điều dưỡng cùng khóc. Họ khóc, họ
cười như những đứa trẻ. Họ là những thương binh bị thương ở đầu như tôi. Nhiều
người gọi họ là kẻ tâm thần!
Tôi về làng trong sự tiếp đón nồng nhiệt của
bà con và bạn bè lối xóm. Ai cũng nghĩ tôi đã hy sinh. Cũng đúng thôi, không hy
sinh thì tại sao đã hòa bình chừng ấy năm mà không có tin tức gì cả. Nhìn tôi
ngơ ngơ ngẩn ngẩn, nhiều người đoán tôi bị tâm thần. Họ lẳng lặng tránh xa tôi.
Họ sợ tôi lên cơn. Bố mẹ tôi không còn nữa. Bà con kể cho tôi nghe về cái chết
của bố và mẹ tôi. Nghe tin đồn tôi bị thương nặng và chết khi đơn vị tôi tấn
công vào Sài Gòn, bố tôi bị nhồi máu cơ tim và đột tử. Mẹ tôi vì thương bố và
nhớ thương con nên ốm dần, ốm mòn và qua đời cách đây sáu tháng. Nghe hung tin,
tôi đứng không còn vững. Đầu tôi choáng váng và nằm lăn ra đất. Bà con lại đưa
tôi vào viện cấp cứu. Một năm sau tôi ra viện. Tôi về nhà thắp nén hương lên
bàn thờ bố mẹ tôi để xin phép đi đón Trang về. Có lẽ nhờ mối tình đầu tôi dành
cho Trang đã giúp tôi gượng đứng lên. Tôi
ra đường Quốc lộ Một đón xe đi thẳng vào Phước Long.
Tháng sáu, trời nóng như đổ lửa. Ngồi trên chiếc xe của hãng Phi Long cũ
kỹ, người nào người nấy mồ hôi ướt đẫm. Tôi tìm về chiến khu Đ, nơi đơn vị tôi
đặt Đại bản doanh. Đơn vị đã chuyển lên biên giới phía Bắc. Tôi lại nhảy xe về
Phước Long. Tìm đến ngôi nhà nhỏ đã một thời cứu tôi thoát khỏi cái chết nằm
sát chân núi Bà Rá. Ngôi nhà được sửa sang lại khang trang đẹp đẽ. Vừa mừng,
vừa hồi hộp, tôi chạy ùa vào nhà. Một người đàn ông độ tuổi ngoài 40 nhìn tôi
ngạc nhiên: - Xin lỗi anh hỏi ai?
Tôi đờ người ra một lúc và định
thần lại hỏi: - Xin lỗi anh cho tôi hỏi đây có phải nhà Má Sáu có con gái tên
là Mai Trang không?
- Đúng rồi! Nhưng họ đã bán cho
chúng tôi mấy tháng nay- Người đàn ông
gật đầu.
Anh ta kéo ghế mời tôi ngồi và đi
pha trà. Vừa rót nước vào bình, anh ta vừa kể cho tôi nghe:
- Cô Trang có một đứa con gái dễ thương lắm. Cháu đã 5 tuổi. Trang đã
lấy chồng bốn tháng rồi. Hai mẹ con cô
ấy theo chồng về đâu tận Sông Bé. Bà sáu thì về ở với vợ chồng chị gái của
Trang. Tôi hổng biết địa chỉ.
Thế là Trang đã có chồng. Tôi thoáng buồn.
Anh
chủ nhà hỏi tôi là ai, có quan hệ thế nào với gia đình bà Sáu. Tôi ậm ừ không
biết mình có nên kể hết cho anh ấy nghe hay không nữa. Vừa lúc đó thì chị vợ
anh chủ nhà đi làm về. Trời nhá nhem.
Nỗi nhớ Trang cứ cuộn lên trong tôi. Tôi đành kể hết cho anh chị ấy nghe về mối
tình đầu trong sáng và đẹp đẽ giữa tôi và Trang và Má sáu đã nuôi giấu tôi
trong những ngày Bình Phước chưa giải
phóng. Anh chị ấy nhìn tôi thương cảm.
Họ giữ tôi lại nấu cơm ăn và ngủ lại. Sáng hôm sau, anh ấy lấy xe Honda 67 chở
tôi ra bến xe để trở ra Bắc. trước khi chia tay, anh ấy còn dúi vào túi tôi một
ít tiền bảo là đi đường uống nước. Tôi thật sự cảm động.
Ngồi trên chiếc xe đốt bằng than củi
chạy ì à ì ạch, tôi lại nghĩ tới Trang. Đứa con gái của Trang kia có phải là
con gái của chúng mình không nhỉ? “ Cháu đã lên năm và dễ thương lắm”... “
Nhìn con gái cô Trang, tôi thấy có nhiều
nét giống anh lắm” – Lời kể của anh chủ nhà nói với tôi đêm qua cứ văng vẳng
bên tai tôi. Tôi vừa thương vừa mừng cho Trang vì em đã có chồng. Em sẽ không
còn cô đơn và em đã có một bờ vai khỏe mạnh để ngã đầu khi mệt mỏi. Tôi luyến tiếc vì tôi mất em. Tôi buồn và
thất vọng vì không tìm gặp được em. Nhưng tôi mừng cho em vì em đã có một người
chồng không “tâm thần” như tôi. Tôi thầm mong cho em hạnh phúc. Mong sao người
ấy sẽ thực lòng thương em, không hành hạ em và bắt em phải trả lời Thiên Bình là
con ai? Người ấy của em bây giờ ở đâu? Làm gì? Còn sống hay chết?...
Chuyến xe tôi đi đúng là chuyến xe bão táp. Xe chạy than đã nóng lại hay
hỏng dọc đường. Đã thế xe toàn chở mấy mụ xồn xồn chuyên đi buôn đường dài.
Trên xe luôn ồn ào và huyên thuyên chuyện lỗ lãi. Mỗi lần gần đến trạm kiểm
soát của Liên hợp, xe lại vờ dừng lại sửa chữa chờ đến giờ cán bộ kiểm soát
nghỉ ăn cơm để vượt qua. Đến bến xe Đông Hà, xe dừng lại và đề nghị hành khách
chuyển sang xe khác. Họ bán khách. Tôi ngán ngẩm không lên xe khác mà cứ ngồi
lì trên chiếc xe cũ. Người lơ xe với bộ mặt chuột nhắt bặm trợn cầm ba lô của
tôi vứt xuống đất và quát: - Anh kia xuống!
- Tôi không xuống. Tôi đã trả đủ
tiền ra đến Vinh. Các anh hãy chở tôi đến nơi
tôi mới xuống – Tôi bực mình trả lời.
- Mày điên à? – Gã lơ xe kia nhìn
tôi.
- Ừ, tao đang điên đây! Tôi quát
lại.
Hắn nhảy lên xe mở hòm đồ nghề
vác cái mỏ-lết bự chảng giơ lên đòi đánh
tôi.
Không động đậy và phản ứng gì,
tôi bảo: - Mày giỏi thì cứ đánh tao đi. Mời!
Những
người hiếu kỳ ở bến xe xúm lại xem mỗi lúc một đông. Gã lơ xe cầm ba lô lép xẹp
của tôi vứt mạnh ra xa. Giấy tờ và áo quần trong ba lô, vung vãi. Một ông
cụ khoảng bảy mươi nhặt những giấy tờ
lên và quát: - Thằng nhóc kia, mày đã sai rồi đấy. Xin lỗi chú ấy đi! - Rồi ông
cụ đưa tờ giấy xuất viện của tôi cho mọi người xem và bảo:
- Chú ấy là thương binh nặng vừa
ra viện đấy. Mày mà đụng đến thương binh thì hãy coi chừng.
Lúc ấy, người lái xe mới mang chiếc ba lô đưa cho tôi và xin lỗi vì hành
động hỗn xược của lên kia. Anh ta bảo:- Xin lỗi anh, xe của tôi không thể chạy
được nữa. Nó hỏng nặng phải đưa vào ga ra để chữa. Bây giờ tôi gửi trả anh toàn
bộ tiền vé và mong anh sang xe khác giùm tôi. Tôi không nói gì và cũng không
thèm lấy lại số tiền mà người lái xe đưa cho tôi. Tôi lẳng lặng xuống xe và bỏ
đi. Đang loanh quanh tìm bóng râm để ngồi nghỉ thì bỗng có ai đó gọi giật giọng
; - Anh Thiên, có phải anh là anh Thiên không? Tôi ngạc nhiên:- Vâng, tôi Thiên
đây. Anh là ai mà biết tôi?
Anh ấy ôm chầm lấy tôi như đã quen
nhau từ lâu:- Tôi là Chân, Nguyễn Minh Chân quê Đông Hà đây.
Chân nào nhỉ? Tôi có quen ai tên
Chân ở Đông hà đâu? Tôi vắt óc để nhớ nhưng không thể.
- Anh là Minh Thiên. Anh đã từng làm nhiệm vụ trao trả tù binh ở Thạch
Hãn. Tôi là tù binh bị bắt ở Khe Sanh năm 1971 và được anh trao trả tháng 5 năm
1973. Vì Đông Hà đã giải phóng nên tôi từ chối về bên kia nên được anh và anh
Thành đưa tôi về giao tận gia đình. Anh không nhớ sao?
-
Tôi nhớ rồi. Anh Chân, anh nhớ giỏi quá. Bảy
năm rồi còn gì. Nhanh thật! Mới đó mà đã 7 năm rồi. Không trách chúng
mình mau già. Bây giờ anh làm gì? – tôi hỏi trong niềm vui khó tả.
-
Tôi bây giờ lái xe đường dài Đông Hà – Hà Nội.
Còn anh? – Chân nhìn tôi trìu mến và hỏi.
-
Tôi về thăm một cơ sở đã nuôi dấu tôi trong chiến tranh. Bây giờ về quê nhưng
xe bị hỏng nên đang tìm chiếc khác đây.
-
May cho anh rồi! Sáng mai tôi có chuyến ra Hà Nội. Anh đi cùng tôi nha.- Nói
rồi Chân mời tôi về nhà Chân. Đêm đó, sau bữa cơm đãi khách quen bằng những món ăn sang trọng,
hai chúng tôi kể cho nhau nghe về cuộc sống của mỗi đứa sau ngày 30 tháng Tư.
Rồi
sáng hôm sau Chân đã bao tôi nào tiền xe, tiền ăn uống dọc đường và còn cho tôi
ít tiền về quê. Tôi không bao giờ quên được nghĩa cử cao đẹp mà người bạn khác
chiến tuyến đã giành cho tôi.
*
* *
Tôi rời bệnh viện sau cái lần cấp cứu
vì bị sốc do đọc mail của Thiên Bình với lời khuyên của bác sĩ: “ Về nhà phải
biết kìm nén cảm xúc đột ngột. Không được xem bóng đá, không xem phim tình cảm
và không được thức khuya. Đặc biệt không được ngồi trước máy vi tính quá mười
phút. Không được hút thuốc lá, không uống bia rượu và các chất kích thích khác.”. Thế thì còn gì nữa để sống! Bóng đá
và lên mạng là hai thứ thích nhất trên đời mà cấm thì đời còn chút thi vị gì
nữa đâu. Vợ tôi lại là một người làm nghề y nên càng thắt chặt kỷ luật đối với
chồng mình. Tôi sống chẳng khác gì Rô Bin Xơn trên hoang đảo. Ngồi buồn, tôi
lại nhớ Trang, nhớ Má Sáu và thương Thiên Bình. Không biết từ ngày tôi vào viện
đến nay, Thiên Bình có gửi mail cho tôi không? Không hiểu Thiên Bình có biết
được tôi đang từng phút, từng giờ lo lắng cho nó không?
Trong cái khó, ló cái khôn. Cứ sáng sáng, tôi lừa vợ đi uống cà phê với
bạn bè nhưng thực ra tôi lẻn vào quán net để check mail và xem blog của bạn bè.
Vợ tôi luôn tin tôi nên không nghĩ rằng tôi lừa cô ấy.
Vừa
mở hộp thư, tôi nhìn thấy một loạt mail
của Thiên Bình và bạn bè gửi cho tôi. Tôi cứ nhằm vào thư của Thiên Bình mà
đọc:
“ Ba, Ba đừng nói lại vào Sài Gòn tìm con đó
nghe!”
“ Ba, tại sao ba không nói gì?”
“ Ba ơi, ba lại bệnh hả ba?”
“ Ba ơi, con muốn được ôm ba một lần”...
“ Ba ơi, sao ba im lặng thế, ba giận con à
ba?”
“ Ba ơi, ba có phải là ba đẻ của con không? Hay
ba cũng giống kẻ đã hại con - một tên lừa gạt, đểu giả? Tạm biệt ba!”
Tôi
cảm thấy lòng mình se sắt. Tôi vội vàng trả lời Thiên Bình: “ Con gái yêu của
ba, Ba chính là ba ruột của con đây. Ba là Minh Thiên. Ba rất yêu mẹ và con.
Sáu năm sau khi ra khỏi trại điều dưỡng thương binh nặng và rời quân ngũ, ba đã
về Phước Long tìm mẹ con. Biết tin mẹ con đã có chồng cách đó chưa lâu nên ba
không muốn phá vỡ hạnh phúc của mẹ con và ba dượng con. Ba đã đau khổ và lặng
lẽ về quê trong thất vọng.
Đừng giận ba nghe con. Bây giờ con đang ở đâu
? Hãy cho ba địa chỉ, ba sẽ đến đưa con về ở với ba. Lúc nào ba cũng chỉ nghĩ
đến con. Ba thương con nhiều lắm.”
Tôi tắt máy và lửng thửng về nhà như kẻ mất hồn. Vợ tôi
chạy ra đỡ lấy tôi vì sợ tôi ngã.
- Anh uống cà phê ở đâu mà lâu vậy? Anh lại mệt à? - cô ấy hỏi.
- Anh
uống gần đây thôi, gặp mấy đứa bạn vui quá nên quên mất. Anh không sao đâu. –
tôi trấn an vợ mình.
Kể từ lúc từ quán cà phê về, hình ảnh Trang
và Thiên Bình cứ luôn hiện ra trước mắt tôi. Tôi hình dung Thiên Bình sẽ giống
Trang lắm. Trang hiền hậu, ít nói nhưng hóm hỉnh lắm. Mỗi lần nhìn em cười là
lòng tôi cứ ngây ngất và rộn ràng làm sao. Thiên Bình giống mẹ hay giống mình
nhỉ? Trong nhật ký, em bảo nó giống mình như lột. Nhưng người mua nhà Má Sáu thì
lại bảo hai mẹ con em giống nhau như hai giọt nước. Hình như tất cả những người
phụ nữ đẹp đều gặp sóng gió trong đời. Hồng nhan bạc phận mà. Có phải thế không
nhỉ? Không, Trang sẽ hạnh phúc. Trang sẽ được chồng chiều chuộng thương yêu như
mình từng thương yêu em.
Có chuông điện thoại, tôi mở máy. Điện
thoại của Bí Rợ. Cô ấy hỏi tôi đã xem blog của Thiên Bình chưa? Thiên Bình có
entry mới – nhật ký của mẹ. Vào đọc đi, thương lắm!
Tôi lại
năn nỉ vợ cho tôi mở máy. Vợ tôi nhìn tôi lo lắng: - Em chỉ sợ.
- Không sao đâu em, anh không xúc
động đâu. – tôi trấn an vợ.
...Ngày...tháng...năm:
Mới đó mà Thiên Bình đã lên bốn rồi. Càng lớn con càng giống anh. Mỗi lần nhớ
anh, mình lại ôm con vào lòng mà khóc. Anh bây giờ ở đâu? Anh còn sống hay anh
đã chết? Nếu còn sống tại sao anh không tìm mình, không nhắn tin hay viết thư
cho mình? Hay anh đã có hạnh phúc riêng?
Nhiều người đàn ông đến nhà chơi có ý muốn
lấy mình làm vợ. Má cũng giục mình lấy chồng vì má già yếu rồi lỡ có bề gì má
nhắm mắt không đành. Nhìn Thiên Bình hồn nhiên, ngây thơ, mình lại thương con
và nhớ anh hơn. Lấy chồng, con gái mình sẽ sống ra sao? Họ có thương con mình
như con đẻ của họ không nhỉ?
...Ngày...tháng...năm: Gia đình chị Hai và anh
rể định cư ở Mỹ về thăm. Trước đây chồng chị Hai làm ở Sở Mỹ
nên đã sang Mỹ theo diện HO. Anh chị ấy muốn bảo lãnh cho mẹ con mình cùng sang
bên đó sinh sống. Mình còn chần chừ vì đi thì để má cho ai. Mình đi rồi, anh
tìm mình không thấy chắc anh buồn lắm. Má thấy mình hờ hững với chuyện đi, ở,
má giận. Má bảo: “Mẹ con mày cứ đi đi, khỏi phải lo cho tao. Tao sẽ về ở với vợ
chồng con Ba.”
... Ngày...tháng...năm: Nể má, tôi chạy đôn
chạy đáo làm thủ tục. Khi đến Ủy ban hành chánh xã xác nhận lý lịch và giấy
khai sinh thì họ không chấp nhận xác nhận cho Thiên Bình. Họ bảo giấy khai sinh
của Thiên Bình không có tên cha nên không thể. Mình vừa buồn, vừa thương con.
Anh ơi, anh
hãy về đây để họ xác nhận rằng Thiên Bình có cha. Cha của con gái em là bộ đội Giải phóng.
...Ngày...tháng...năm: Gia đình chị Hai đi
rồi, mình gửi Thiên Bình cho Má để đi tìm anh. Đêm nay mình trằn trọc không sao
chợp mắt. Ngày mai thân gái dặm trường đi tìm kim đáy bể. Anh ơi, anh có vui
không khi gặp lại em? Đừng xua đuổi người con gái đã một lòng chờ chồng nghe
anh. Đừng làm em thất vọng.
...Ngày...tháng...năm:
Một ngày cơm hàng cháo chợ. Xe đò chạy bằng
than vừa nóng vừa chật. Người ta bảo chỉ có ở nước mình mới đưa nền công
nghiệp vận tải trở lại thời kỳ lạc hậu chứ các nước tiên tiến làm gì có xe chạy
bằng than như thế này. Xe vừa chạy vừa nhảy disco. Nhiều người không chịu được
mùi ga của than xả ra bị ngất xỉu. Cũng
may mình không nằm trong số họ.
Lần đầu tiên đi xa, mình lo lắng, hồi hộp
xen lẫn niềm hy vọng mong manh được gặp anh. Cứ nghĩ đến anh mình quên cả cái
nóng, cái khát và không cảm thấy mệt mỏi.
Đêm nay mình thuê một quán trọ ở bến xe Quy
Nhơn. Khí hậu ở đây nóng hầm hập chẳng khác gì ngồi trên xe.
Ngày...tháng...năm: Đã ba ngày xa con gái và
má, mình cảm thấy nhớ con và thương má vô cùng. Mình lần đầu tiên được đi qua
Đèo Ngang, nơi mà Bà Huyện Thanh Quan đã để lại những vần thơ bất hủ. Hồi ấy
anh đọc bài thơ của Bà Huyện Thanh Quan và bảo Đèo Ngang cách nhà anh khoảng
một trăm cây số. Đến thị xã H. nhỏ bé thì mình xuống xe. Hỏi thăm Núi Hồng,
sông La ở đâu thì họ bảo còn “ngái lắm”.Một chị ở bến xe bảo lên xe đi Vinh
cùng chị, chị chỉ cho. Ngồi trên chiếc xe hiệu Hải âu thoáng rộng nhìn ra hai bên,
chị gái đi cùng chỉ cho mình xem những hố trâu đằm to bằng cái sân và bảo:”hố
bom Mỹ đó em ạ”. Hố bom nhiều lắm. Nhiều không thể đếm hết. Hố bom như những bát nước lọc trong vắt. Ước gì được
xuống đó mà tắm giặt thì thích lắm. Một dãy núi cao xanh rì nằm ở phía Đông sát
với đường quốc lộ hiện ra. Chị ấy bảo đến rồi đó em. Đây là dãy núi Hồng Lĩnh.
Mình xuống xe và nhìn về dãy núi, rồi nhớ lời anh nói với mình: “ Bao giờ Hồng
Lĩnh hết cây
Sông La hết nước thì đó với đây mới
hết tình”.
Cây lá xum
xuê một màu xanh thẳm mà tình anh muôn dặm em phải đi tìm!
Mình lang
thang cả buổi chiều ở đây. Hỏi về anh chẳng ai biết cả. Mình vào một quán cơm xin ngủ lại qua đêm sáng mai tìm
tiếp. Chủ quán cơm nghe mình kể về mối tình của hai đứa. Ông ấy thương tình cho
mình ăn cơm cùng gia đình và ngủ lại nhưng không chịu nhận tiền ăn tiền trọ.
Người ở đây thật giàu tình giàu nghĩa. Chắc chắn anh cũng không nỡ lòng nào bỏ
em và con đâu nhỉ.
Ngày...tháng...năm: Mình đi xe ôm tìm đến Ủy
ban hành chánh các xã dưới chân núi Hồng Lĩnh nhờ họ mở sổ hộ tịch tìm giúp.
Không có tên anh. Buồn!
Mình hỏi đường đến Sông La, nơi có bến Tam Soa mà anh đã có lần nhắc
tới: “Mời bạn về ngắm cảnh sông La, bơi thuyền dạo bến Tam Soa”. Chắc là nhà
anh ở gần bến Tam Soa? Bác xe ôm chở mình đến chỗ đê La Giang tiếp nối với
đường Quốc lộ Một và từ đó men theo bờ sông La đi ngược lên. Bác ấy bảo Bến Tam
Soa ở gần phà Linh Cảm. Nơi đây hồi chiến tranh phá hoại, Mỹ ném bom và bắn phá
dữ lắm.
Bến Tam Soa đang hiển hiện trước
mắt mình. Dòng nước sông La xanh vời vợi lửng lờ trôi. Những chuyến đò ngang
đầy ắp người bình thản qua sông. Mình hỏi về anh không ai hay biết. Mình ghé
vào nhà thờ ông Trần Phú, thắp nén nhang cầu nguyện ông nhờ ông mách bảo anh ở
nơi nào. Ông mỉm cười đôn hậu như muốn
với mình rằng: “Cháu không tìm được anh ấy đâu!”. Rồi mình lại lần đến Ủy ban
các xã hai bên bờ sông La nhờ họ tìm kiếm. Tất cả đều lắc đầu.
Anh ơi,
nước sông La vẫn chảy bốn mùa, em vẫn một lòng đợi chờ anh năm tháng mà anh thì
biền biệt nơi nào? Anh ơi, anh hãy về với em và con. Con gái anh là Thiên Bình.
Nó ngoan và dễ thương lắm anh à.
Ngày...tháng...năm: Mình về nhà sau mười
ngày lang thang tìm kiếm. Má nhìn mình vừa ốm vừa đen thương hại: - Thôi con ạ,
như vậy là con đã trọn tình trọn nghĩa với thằng Tám rồi. Đừng chờ đợi làm gì
nữa. Thương ai thì con gật đầu cho má yên tâm.
Đọc đến
đây, mặt tôi ngây ra. Vợ tôi vội vàng tắt máy và bắt tôi nằm nghỉ. Cô ấy pha
nước cam cho tôi uống và động viên: - Để dành đọc mỗi bữa một ít thôi. Đọc hết
mai lấy gì mà đọc. Anh nghỉ ngơi cho khỏe. Chiều nay em bảo con nó in thành
sách cho anh muốn đọc lúc nào thì đọc. Thần kinh yếu, nhìn máy tính lâu hại
lắm.
Tôi
nằm, nghĩ về Trang, nghĩ về Thiên Bình, lòng tôi cuộn lên bao niềm thương xót.
Không biết em lấy chồng rồi có hạnh phúc không?
Thiên Bình đã có thêm em chưa? Chồng em có đối xử tệ với em và con gái của
chúng mình không nhỉ?
Tôi lại nói dối vợ đi cà phê với bạn. Tôi sà vào
quán net cách xa nhà gần một cây số để vợ không nhìn thấy. Phòng net chật ních
bọn trẻ. Tiếng nhạc, tiếng rú của các trò chơi game phát ra ồn ào nhức óc.
Không còn máy trống, tôi lại nổ máy đi tiếp.
Tôi ghé vào một quán mới
khai trương. Chủ quán hăm hở đón mời khách và
bắt tay tôi kéo vào: - Mày là Thiên, Minh Thiên có phải không? Lĩnh đây,
Lĩnh E8 đây. Mày còn sống sao? Hồi mới giải phóng tao về quê nghe tin mày hy
sinh rồi cơ mà.
- Ừ, tao chết lâu rồi chứ có hy sinh hồi nào
đâu – tôi phì cười.
- Mày cũng ở thành phố này à? Vào lâu chưa? –
Lĩnh, chủ quán net hỏi.
Thế là cuộc gặp gỡ bất ngờ đã không cho tôi cơ
hội vào blog của Thiên Bình.
Một buổi sáng xui xẻo. Tôi về đến nhà nằm phịch
xuống salon thở dài.
Tôi bảo vợ: - Hôm nay
không biết giá vàng lên hay xuống em nhỉ?
Vợ tôi cười: - Giá vàng lên hay xuống thì có
ảnh hưởng gì đến nhà mình đâu mà tò mò. A, anh lại muốn vào mạng chứ gì? Ngồi
một lúc thôi nha, ngồi lâu lại không ăn không ngủ được. Em lo cho anh lắm.
Hôm nay, trước khi post nhật ký của mẹ mình lên
blog, Thiên Bình còn có mấy câu diễn giải: “ HHT ( Hoa Hồng Trắng-viết tắt) đã khóc rất nhiều
khi đánh máy trang nhật ký này của mẹ. Trang nhật ký bị nhòe và mất nhiều chữ
vì bị ướt rất khó đọc. Có lẽ những giọt nước mắt của mẹ đã làm cho cả trang nhật
ký này trôi hết chữ. Dù sao HHT cũng cố gắng đánh vần để post lên cho mọi người
cùng xem. Entry câu được câu mất, mong mọi người thông cảm”
...Ngày...tháng..ăm:
S...ú năm vắ...g an..., con gá...òn năm tuổ... Anh ơ...i, ngày mai em phả..i ề
nhà chồ...g. Em không đợi an...h ...ược nữa...ồi. ( HHT cố gắng dịch lại nghe)
Sáu năm vắng anh, con gái tròn năm tuổi. Anh ơi, ngày mai em phải về nhà chồng.
Em không đợi anh được nữa rồi...( Mất chữ nhiều quá pà con ơi)
Chồng em là một sĩ quan ngụy đã đi cải tạo 2 năm ở trại. Anh ấy tên Lãm đã
bỏ vợ vì vợ không sinh con cho anh ấy. Quê chồng em ở Thủ Dầu Một. Anh ấy là
con trai duy nhất của một gia đình giàu
có. Ba mẹ anh ấy đã bị mất tích trên biển trong một lần vượt biên trốn ra nước
ngoài. Nghe đồn, ba mẹ anh ấy đã bị cướp biển cướp hết tiền vàng, sau đó bị
giết và bị vứt xác xuống biển. Lãm không có con cái nên rất thương Thiên Bình
và coi Thiên Bình như con đẻ anh à.
Không có anh em buồn và lúc nào cũng nhớ anh.
Ở một nơi nào đó, nếu còn sống, anh nhớ giữ gìn sức khỏe nghe anh. Anh hãy quên
mẹ con em đi. Cứ coi như trên đời này không có Thiên Bình và coi như em đã
chết.
Vĩnh biệt anh yêu.
Những dòng chữ cứ mờ dần trước mắt tôi. Tôi dấu
vợ ngoảnh mặt lấy tay áo lau nước mắt. Chắc trước khi đi lấy chồng Trang đã
khóc nhiều lắm. Tội nghiệp cho Trang và con gái. Tôi thật đáng ghét. Tôi đâu có
ngờ đâu vì tôi mà Trang đã phải chịu nhiều đau khổ đắng cay như thế này.
3
Bức thư gửi lại
Đã hơn hai tháng rồi tôi không hề thấy Thiên Bình
viết blog. Không hiểu chuyện gì đã xẩy ra với con bé. Cứ mỗi lần vào mạng, mở
đến trang của Hoa Hồng Trắng, không thấy gì tôi lại tắt máy. Trang blog của tôi
cũng bỏ ngõ. Tôi không muốn viết gì cả. Bạn bè của tôi vào lưu bút hỏi: “Mèo
đưa Chuột đi chợ xa hay sao mà vắng nhà hoài ấy nhỉ?”. Có người viết:
“ Chú ơi, chú lại mệt đấy à?” hoặc: “Anh có
sao không đấy? Vết thương lại tái phát à?”.v.v... và v.v...
Tháng Bảy, cái nóng miền Trung như thiêu như đốt.
Vết thương trên đầu tôi âm ỉ đau. Tôi không dám vào mạng và không dám làm bất
cứ việc gì dính dáng tới đầu óc. Nhiều khi nóng toát cả mồ hôi nhưng vẫn không
dám bật quạt vì gió quạt làm cho đầu tôi tê dại. Không ngủ được, mới 3 giờ sáng
tôi rủ vợ đi bộ ra biển tắm. Nhà tôi cách biển 3 ki lô mét. Tôi cứ ngâm mình
dưới nước hàng tiếng đồng hồ thì đầu tôi tạm ổn. Mặt trời nhô lên khỏi mặt biển
thì lại đi bộ về nhà. Chiều đến, cứ 5 giờ tôi và cô ấy lại đi bộ ra biển. Tôi
lại ngâm mình trong nước. Suốt cả mùa hè, không hôm nào tôi bỏ tắm biển. Có lẽ
nhờ biển mà đầu tôi không còn đau nhức mỗi khi trở trời. Tôi khỏe hẳn ra. Biển
– một bệnh viện điều trị không cần thuốc cho tất cả các loại bệnh tật mà lâu
nay không ít người quan tâm. Tôi đã tìm được cho mình một phương pháp điều trị
tuyệt vời.
Tôi nhận được giấy mời của Sở lao động Thương
Binh và Xã hội đi dự lễ kỷ niệm ngày
Thương binh liệt sĩ 27 tháng Bảy. Vừa thấy tôi, bạn bè xúm lại hỏi thăm. Họ
chúc mừng tôi vì thấy tôi hồng hào khỏe mạnh. Tôi nhận được quà, hoa tươi
của các ban ngành, đoàn thể dành cho
những thương binh nặng đã chịu khó rèn luyện nên không phải vào bệnh viện. Đang
sung sướng và cảm động vì sự quan tâm của mọi người thì có chuông điện thoại.
Tôi chạy vội ra khỏi phòng lấy điện thoại ra xem. Số điện thoại lạ
hoắc. Vừa bấm nốt để nghe thì có tiếng con gái gọi: “Ba ơi, con nè. Con Thiên Bình nè.”
Tôi bỗng run lên vì bất
ngờ. Tôi mừng quá gọi líu cả lưỡi:
- Con,
con gái của ba. Ba đây con! Con đang ở đâu vậy con ?
Thiên Bình khóc. Tiếng khóc của Thiên Bình
làm tôi mất bình tĩnh.
“ Ba ơi, con nhớ ba lắm. Con khổ lắm ba ơi!”.- Nín đi con, nói cho ba
nghe nào. Con làm sao ?Ai đã làm gì con? Mẹ con đâu? Nói cho ba biết chỗ con ở
để ba đến với con? Tôi làm một hơi dài
không cho con gái tôi chen vào.
“Con gởi thư cho ba rồi. Ba đọc sẽ biết tất cả. Đừng giận con nghe ba. Ba đừng buồn
nghe ba. Con có lỗi với ba nhiều lắm! Con chào ba.” – Thiên Bình tắt điện thoại.
Tôi
gọi ngay cho Bí Rợ báo tin Thiên Bình đã gọi cho tôi và nhờ Bí Rợ lần theo số điện thoại để tìm manh
mối của con gái. Một lúc sau Bí Rợ gọi lại cho tôi và bảo rằng: số Thiên Bình
gọi cho tôi là số điện thoại trạm bưu điện dùng thẻ ngoài phố.
Suốt đêm hôm đó tôi không sao chợp được
mắt. Phần vì thương Thiên Bình và nỗi nhớ Trang cồn cào. Phần thì nóng lòng
mong nhận được thư của Thiên Bình. Không biết Thiên Bình nói gì trong thư? Chắc
nó trách móc mình nhiều lắm.
Hai ngày sau tôi nhận được một gói bưu kiện
được gửi ra từ Thành phố Hồ Chí Minh.
Gói
bưu kiện được gói cẩn thận trong hai lớp ni long màu sẫm. Ngoài cùng là miếng
phong bì cắt ra từ một bì thư chuyển phát nhanh. Trên mảnh giấy được viết bằng
bút xạ nắn nót:
“Con
gái Thiên Bình Kính gởi ba: Phạm Minh Thiên, Địa chỉ...”
Không
chờ người đưa bưu kiện đi khỏi, tôi mở cẩn thận gói bưu kiện. Một quyển nhật ký
cũ kỹ sờn bốn góc và rách mép cùng với một pbong bì dày cộp được gói rất kỹ.
Tôi run run cầm quyển nhật ký của Mai Trang đưa lên và mở trang đầu tiên xem:
“ Năm năm, tháng tháng, ngày ngày
Lần lần, lữa lữa, rày rày, mai mai.
Kiếp sau xin chớ làm người
Làm cây thông đứng giữ trời mà reo.”
Nước mắt tôi ứa ra. Vợ tôi vội
cầm lấy quyển nhật ký cho vào hộc tủ và bảo: - Cất đi, khi nào khỏe anh hãy
xem. Hay để tối nay em đọc cho anh nghe nha.
Tôi nhẹ nhàng mở phong bì dày cộp
kia ra. Bức thư Thiên Bình gửi cho tôi. Chữ viết trong thư sao mà giống nét chữ
của tôi đến kì lạ. Vợ tôi nhìn và bảo: - Hay là cháu gửi lại những bức thư
trước đây anh từng gửi cho chị ấy? Không lẽ chữ con gái mà lại giống nét chữ
của anh đến thế. Bức thư đã nhòe đi nhiều chỗ rất khó đọc. Có lẽ Thiên Bình đã
khóc nhiều lắm khi viết bức thư này gửi cho tôi. Và tôi đọc cho vợ tôi cùng
nghe.
“TP...
ngày...tháng...năm...
Ba kính yêu,
Bây giờ thì con khẳng định chắc chắn rằng
ba chính là ba ruột của con rồi. Vì vậy con sẽ không dấu giếm ba bất cứ một
điều gì cả. Con chỉ mong rằng, đọc xong thư này, ba đừng đi tìm con làm gì. Vì
khi bức thư này đến được tay ba thì con đã đi đến một nơi xa lắm. Nơi ấy sẽ
không ai có thể tìm thấy con và nơi ấy con sẽ không làm khổ thêm một người nào
nữa. Con sẽ đi tìm mẹ con...
Ba ơi, con không muốn ba buồn vì mẹ và con
và con càng không muốn bệnh của ba tái phát để rồi trí nhớ của ba bị biến mất vì viên đạn quái ác kia đã chia
lìa tình yêu cao cả của ba và mẹ sau ngày đất nước bình yên.
Mẹ vẫn thường hỏi con: Con có biết Thiên
Bình là gì không? Con lắc đầu. Con còn nhỏ làm sao mà hiểu được. Mẹ bảo Thiên
Bình là bầu trời bình yên. Khi nào bầu trời Bình yên ba sẽ về với mẹ và con.
Bầu trời và mặt đất đã bình yên hơn 30 năm mà con vẫn không thấy ba trở về. Con đã hết cả kiên
nhẫn và không còn tin vào lời mẹ nói.
Nhưng bây giờ thì con đã tin. Con đã thấy ba con trở về.
Ba ơi, ba đừng giận mẹ con nghe ba. Con lên
năm, mẹ gởi con cho ngoại để đi tìm ba. Mẹ đã lặn lội ra tận ngoài Bắc để tìm
ba đó. Không có tăm hơi gì về ba cả, mẹ con vì thương ngoại mà đành nhắm mắt
đưa chân về nhà dượng Lãm. Mẹ mang con đi theo. Ngoại con ở lại một mình trong
cái lều tôn rách nát ấy. Dì Ba và mẹ thương Ngoại, nói mãi ngoại mới lên thị xã
ở với dì. Con và mẹ đi rồi, ngoại thương
và nhớ hai mẹ con con nên cứ khóc hoài. Con cũng thương và nhớ ngoại lắm
ba ạ.
Nhà
dượng Lãm ở tận Thủ Dầu Một. Dượng không còn ba, mẹ và không có anh chị em. Nhà
dượng kín cổng cao tường. Bên trong cái cổng sắt sơn đen kia là một khu đất
rộng mênh mông. Nhà xây kiên cố dãy ngang, dãy dọc trông im ắng và rờn rợn. Lúc
mới đến con không dám xa mẹ vì sợ trong những gian nhà vắng người kia đầy ma là
ma.
Nhà cửa của dượng lâu ngày không sửa sang quét
dọn nên bẩn thỉu và bừa bộn lắm. Mẹ con suốt ngày lủi thủi một mình dọn dẹp lau
chùi chẳng nói, chẳng cười. Dượng ấy nhìn con thiếu thiện cảm.
Mẹ và con có biết đâu rằng đó là một địa
ngục không lối thoát!
Con phải ngủ riêng. Phòng ngủ của con sát
vách với phòng của mẹ và dượng. Đêm đầu tiên về nhà này, đang ngủ con thức giấc
vì tiếng quát của dượng: “ Mày là con đĩ, mày đã từng ngủ với bao nhiêu thằng?
Cái con bé kia là con thằng nào? Hắn ở đâu? Chúng mày còn dăng díu với nhau
không?” Sau đó là tiếng đấm, tiếng đá huỳnh huỵch. Con mở cửa chạy sang xem.
Dượng ấy quát: “Cút! Cút ngay về phòng.” Nhìn tóc mẹ rũ rượi, mồm và mũi mẹ đầy
máu. Thương mẹ con lao vào ôm lấy mẹ thì bị dượng cho một cái tát vào mặt nẩy
đom đóm. Mẹ ôm chầm lấy con và mặc cho ông ta đạp, giật tóc. Mẹ cắn răng không
khóc, không van xin một lời.
Kể từ
đó, hầu như ngày nào mẹ con con cũng bị chửi
bới hoặc bị hành hạ.
Con chơi ở đâu khuất mắt ông ta thì thôi chứ
nhìn thấy mặt con là ông ta lại rủa: “ Mày là con con đĩ.” Rồi bao nhiêu những
lời lẽ xấu xa nhất lại đổ lên đầu mẹ con. Nhiều hôm con đòi mẹ: mình về nhà
mình thôi mẹ, ở đây con không chịu được. Mẹ thoa lên đầu con và bảo: “ Không
được đâu con. Nhà mình bán mất rồi, còn chỗ đâu mà về. Mẹ con lại sụt sịt.
Con
lên sáu, mẹ dắt tay con đến trường tiểu học xin cho con vào lớp một. Được đi
học con vui lắm. Đến trường con chạy nhảy tung tăng cùng các bạn thật thích.
Nhưng khi về nhà, ngồi vào mâm cơm lại nghe ông ấy đay nghiến mẹ: “ Mày là con con đĩ”. Con lại nuốt không vô.
Hình
như ngày nào cũng bị chửi, bị đánh nên mẹ con trở nên chai lì. Mẹ lạnh lùng đau
khổ. Mẹ không còn nước mắt để khóc.
Con
học chăm lắm. Các thầy, các cô ở trường khen con nhanh nhẹn, thông minh, học
giỏi. Mẹ con thì bảo: “ Mày giống ba mày lắm thôi. Ba mày thông minh và giỏi
lắm. Không biết ba mày học lúc nào mà tiếng Nga, tiếng Pháp nói như gió. Ba mày
làm thơ và ngâm thơ hay lắm. Ba mày đánh
giặc thì khỏi chê.” Chưa biết mặt ba nhưng nghe mẹ kể về ba con tự hào lắm.
Dần
dần lớn lên con mới hiểu rằng ông ba dượng
của con không thể có con. Khi lấy bà vợ trước, ông ấy tưởng rằng bà ấy không
thể có con nên mới li dị để lấy mẹ con. Trong một lần vì uống quá nhiều rượu,
ông ta bị ngộ độc đưa vào viện cấp cứu. Tiện thể, ông ta xin được khám tổng
thể. Sau khi xét nghiệm, bác sĩ bảo ông ta không thể có con. Nghe tin đó, ông ta càng cay cú và trở nên
ghen ghét tất cả.
Về
nhà, ông ta càng tra tấn mẹ nhiều hơn. Ông ta viện đủ lí do để dánh mẹ. Nào là
cơm mẹ nấu hơi ướt. Nào là pha trà loãng quá. Nào là nước tắm nóng quá. Nào là
rau nhặt không kỹ. Nào là màn mắc không phẳng, chiếu trải không bằng đầu bằng
đuôi. Và mỗi lí do là một trận đòn. Ông ta quấn tóc mẹ và chân giường rồi đánh.
Tóc rơi từng mảng, máu chảy dính bết cả tóc. Có hôm, ông ta lấy ghế đẩu kẹp vào
cổ mẹ mà đánh. Cứ hễ con chạy vào ôm mẹ là ông đánh con sưng hết mặt mũi.
Thương con, mẹ nằm che lên người con thì ông ta vác cây củi to phang lên lưng,
lên đầu mẹ. Mẹ nghiến răng chịu đựng. Có lần về thăm ngoại, con đã tủi thân kể
cho ngoại nghe về sự tàn ác của dượng.
Mẹ con cười để ngoại yên lòng và bảo: không phải thế đâu má, anh ấy đùa cho vui
thôi mà. Con biết mẹ thương ngoại nên không muốn để ngoại biết và suy nghĩ.
Nhiều
hôm thương mẹ bị đánh dữ quá, con buột
miệng gọi ba. Con muốn ba về để cứu mẹ. Mỗi lần con gọi ba là mỗi lần mẹ bị
đánh nhiều hơn.
Con
đã kể cho cô giáo con biết về chuyện dượng luôn hành hạ mẹ và con. Cô giáo
đã nhờ ông trưởng thôn đến nhà can
thiệp. Ông Lãm không cho trưởng thôn vào nhà. Hắn ta bảo việc dạy vợ dạy con
của hắn không được ai dí mũi vào. Cán bộ mặt trận, chi hội phụ nữa đến để đấu tranh, hắn khóa
trái cổng không cho vào. Khi cán bộ đi rồi, mọi tức tối hắn ta đổ hết lên đầu
mẹ và con. Hắn lại chửi, lại đấm, lại đạp cho đến khi hắn mệt nhoài mới thôi.
Năm
con mười lăm tuổi, nhiều lúc con định thuê mấy thằng côn đồ đến trị tội hắn. Mẹ
con không cho. Mẹ bảo:
“ Mình
sống còn để phước về sau con ạ. Đừng làm bậy mà ảnh hưởng đến tương lai của con
sau này”. Nghe mẹ, con lại cắn răng chịu đựng.
Con còn nhớ hôm ấy là ngày 15 tháng Năm –
ngày thành lập Đội thiếu niên Tiền phong Hồ Chí Minh. Con là người duy nhất
được Tổng Đội thiếu niên và Đoàn Thanh niên cộng sản Hồ Chí Minh nhà trường
giới thiệu và chuyển thẳng con từ đội viên lên đoàn viên. Bạn bè con chúc mừng
con. Con được tặng nhiều hoa tươi lắm.
Con vừa mừng vừa tự hào vội vàng ôm tất cả hoa bạn bè tặng con về nhà tặng mẹ.
Mẹ con ôm con và mừng rơi nước mắt. Mẹ vừa cắm hoa vào bình thì hắn ta đi nhậu
về. Mặt hắn đỏ như trái bưởi rám nắng. Hắn cầm bình hoa vứt mạnh ra sân vỡ
vụn. Hắn hỏi mẹ hoa ở đâu mà mang cắm
trong nhà của hắn. Con và mẹ nói thế nào hắn cũng không nghe. Hắn trợn mắt quát: “Mày lại gặp cái thằng cha đó hả? Lãng
mạn gớm nhỉ.” Hắn lôi mẹ ra đánh. Hết đấm, đạp, hắn trói mẹ và cột nhà bếp lồi
lấy củi quật tới tấp. Mặt mẹ bầm tím. Máu mũi, máu mồ tóe ra. Mẹ ngất lịm. Con
kêu khóc, van xin hắn tha cho mẹ. Con càng xin hắn càng đánh. Khi hắn mệt lả,
con lại mở trói cho mẹ và gọi xe cấp cứu. Suốt đêm đó con ngồi bên giường mẹ.
Mẹ mê man bất tỉnh. Các bác sĩ đưa mẹ đi chụp phim và bảo mẹ con bị dập lách,
dập phổi, gãy dập xương mũi và gãy xương ở vai. Sáng hôm sau mẹ mở mắt nhìn
con. Mẹ thều thào: “ Chắc mẹ không sống
được. Con hãy trốn khỏi nhà đó càng sớm càng tốt. Nhớ thay mẹ đi tìm ba đẻ của
con. Ba con là Phạm Minh Thiên ở tỉnh H.” Rồi mẹ tắt thở. Con một mình bên xác
mẹ mà không biết xoay xở thế nào. Các
bác lãnh đạo của bệnh viện hỏi nhà con còn ai và ở đâu để còn báo tin. Con lắc
đầu và bảo nhà con chỉ có hai mẹ con thôi. Con không có nhà. Con nhờ các bác
giúp con. Bệnh viện đứng ra chôn cất mẹ giúp con. Con nhờ họ đưa mẹ về dưới
chân núi Bà Rá - nơi lần đầu mẹ gặp ba.
Nơi mà trước khi đi lấy chồng mẹ dặn con
khi nào mẹ chết thì hãy chôn mẹ ở chỗ này.
Ba
ơi, viết đến đây tay con như cứng lại và lòng con đau nhói. Tại sao mẹ con và
con lại phải chịu khổ đau đến thế không biết? Lúc ấy con hận ba lắm, ba biết
không? Giá như mẹ con không gặp ba, không sinh con ra trên đời thì làm gì có
cảnh tang thương này đâu ba! Nếu mẹ con không nhẫn nhục chịu đựng và bỏ cái nhà
thằng côn đò ấy mà đi thì đâu đến nỗi này đâu ba.
Con không dám về nhà dì Ba vì sợ ngoại biết mẹ con
đã chết. Ngoại sẽ buồn phiền mà chết thì con sống với ai? Gia đình dì Ba thì đã
được dượng Hai bảo lãnh sang định cư ở
Mỹ rồi. Ngoại ở một mình và sẽ không sống nổi nếu biết tin này.
Con
lẳng lặng lên xe về lại nhà Lãm. Hắn chìm trong rượu và không mảy may biết mẹ
con đã chết. Hắn trợn mắt nhìn con rồi quát: “ Con mẹ mày trốn đâu rồi hử?” Con
căm thù hắn và mếu máo: “ Mẹ tôi bị ông hại chết rồi!”. Hắn cười sặc sụa: “ Oắt con, mày dám
giỡn mặt tao hả mày?”. Hắn lao đến ôm chặt con lôi vào phòng của mẹ và hắn. Hắn
đóng chặt cửa và tra hỏi mẹ con đâu. Con quỳ xuống lạy hắn, van xin hắn thả con
ra và lập bàn thờ cho mẹ nhưng hắn một
mực không chịu. Hắn nghiến răng như
nghiến khúc xương chó rồi trợn mắt lên bảo: “ Mẹ mày trốn thì mày thế vào đây.”
Hắn lôi con lên giường xé hết áo quần và hắn đè con nằm xuống. Mặc cho con dẫm
đạp, cào cấu vào mặt, vào lưng, vào ngực hắn nhưng hắn cứ ghì chặt con xuống
giường. Giãy giụa một lúc con ngất đi không còn biết gì nữa. Khi con tỉnh dậy
thấy cả hắn và con không một mảnh vải trên người. Con thấy đau nhói ở vùng kín.
Ở đó chảy rất nhiều máu. Con vùng dậy lấy áo quần mặc vào và chạy một mạch ra
khỏi cái địa ngục tối tăm bẩn thỉu ấy.
Thế
là hắn hại chết mẹ con, hủy hại đời con gái của con. Con như kẻ mất hồn. Con đi
mà không biết mình đi đâu. Cả ngày hôm ấy, con cứ lang thang khắp nơi. Con đi
tìm một con sông và nhảy xuống để mãi
mãi không ai còn thấy mình, không ai biết mình đã bị cha dượng hãm hiếp.
Gặp một chiếc cầu không dài lắm bắc ngang một con
sông sâu, nước trong leo lẻo, con hít vào một hơi thật dài rồi nhắm mắt để nhảy
xuống. Một chiếc ô tô bốn chỗ đỗ xịch sau lưng con. Có bàn tay ai đó nắm lấy
tóc con giật mạnh ra đằng sau. Mở mắt ra, trước mắt con là một gã đàn ông
khoảng 40 to mập.
- Đừng
bé! Đừng phí tuổi xuân của mình như thế. - ông ta ra bộ thông cảm.
-
không! Ông hãy để tôi chết đi. Tôi không muốn sống nữa - con thét lên.
Rồi ông ta dìu con vào xe, ấn vai con ngồi vào
ghế và bảo: - Nói đi, vì sao bé lại muốn chết? Tôi có thể giúp bé vượt qua cơn
khủng hoảng này.
Con định thần nhìn kỹ người đàn ông. Mặt ông ta tròn và mập quá nên cái trán và
cằm biến đâu mất. Má ông ta phinh phính như
cái lão quan huyện trong chuyện “ Vào cửa quan” của Nguyễn Công Hoan mà
con đã học.
Ông ta lại hỏi: - Bây giờ bé muốn về đâu, tôi
sẽ đưa bé đi?
- Không biết! Con trả lời cộc lốc. Con biết đi
đâu, về đâu bây giờ hả ba? Mẹ con không còn, ngoại con thì già yếu. Về cái ổ
quỷ kia thì không thể. Con còn gì để mất nữa đâu ba!
- Chú cho con đi đâu cũng được. – con hạ
giọng.
Ông ta chở con về thẳng Sài Gòn rồi đưa con
vào một phòng sang trọng trên lầu 8 của một khách sạn. Ông ấy bảo: - Đây là
phòng ở của bé. Muốn ở đến lúc nào cũng được. Ở đây muốn ăn gì cứ bảo với người
dọn phòng, họ sẽ bưng đến tận nơi. Đừng ra ngoài, đi lang thang không có lợi
cho bé đâu.
Con bất ngờ với cách giúp đỡ của ông ta. Tại
sao ông ta lại tốt với con đến vậy?Và con bắt đầu thấy sợ.
Hôm
sau ông ấy đẫn con đến chợ Bến Thành mua cho con rất nhiều quần áo và đồ dùng
cá nhân. Ông ta bảo: - Bé ưng gì cứ mua thoải mái, đừng sợ anh hết tiền.
Sau này con mới biết ông
ấy là giám đốc một công ty kinh doanh địa ốc. Ông ta tiêu tiền như giấy lộn.
Ông ấy đã có vợ và một đứa con gái lên 10 tuổi. Gia đình họ sống ở thành phố
này. Hàng ngày ông ta đi làm và bù khú
nhậu nhẹt với đối tác. Tối về nhà với vợ con. Thỉnh thoảng ông ấy ghé thăm con ở khách
sạn.
Được
ăn uống tốt lại không phải làm việc và không bị ám ảnh bởi những lần khủng bố
của ông Lãm, con mập và lớn nhanh như thổi. Soi gương, con thấy mình càng lớn
càng giống mẹ. Mẹ con rất dễ thương phải không ba?
Được cưu mang và săn sóc chu đáo, con dần
dần cảm mến người đàn ông ấy và trở thành gái bao của ông ta lúc nào không hay.
Sáu tháng sau, ông ấy mua tặng con một ngôi biệt thự với đầy đủ tiện nghi ở một
quận trung tâm của thành phố. Cứ dăm bữa nửa tháng, ông ấy lại đưa con shopping
hay tham quan du lịch các tỉnh xa với ông ta. Thậm chí ông
ta còn đưa con đi du lịch tận Thái Lan, Singapore và Trung quốc nữa. Ông ta
cho con rất nhiều tiền bạc và trang sức đắt tiền. Ông ta bảo yêu và thương ông
ta thì không tiếc bất cứ một thứ gì. Hàng tháng con lại ra bưu điện gởi tiền về
cho ngoại. Con viết thơ cho ngoại bảo đây là tiền của mẹ gởi ngoại. Ông ta còn
đưa con về tận núi Bà Rá thuê người xây mộ cho mẹ. Mộ mẹ được xây cao, ốp bằng
đá cẩm thạch đẹp lắm ba ạ. Con cứ nằm ôm lấy mộ mẹ mà khóc. Bây giờ con giàu có bao nhiêu
con càng thương mẹ bấy nhiêu.
Năm
năm sau cái ngày gặp ông ấy, một tai họa lại ập đến với con. Vợ ông ấy phát
hiện ra chồng mình có bồ nhí đã thuê người theo dõi và phát hiện ra nơi con ở.
Họ ập vào nhà đánh con một trận thừa sống thiếu chết và đuổi con ra khỏi ngôi
biệt thự ấy. Con lại trắng tay và bước
vào những chuỗi ngày nhục nhã nhất.
Con lang thang hết nhà nghỉ này đến phòng trọ
khác. Không có cái ăn, cái mặc, con đã trở thành thú tiêu khiển cho những kẻ
lắm tiền rửng mỡ. Và rồi con bị sốt cao,
đau bụng đi ngoài liên tục. Bạn cùng cảnh ngộ đưa con đi khám và bác sĩ kết
luận con bị nhiễm HIV. Con đau khổ và chán chường muốn đi tìm cái chết. Con lại
nghĩ đến ngoại và nhớ lời dặn của mẹ
trước lúc mất là phải tìm kiếm ba, con gượng sống.
Con
tranh thủ về thăm ngoại. Ngoại ốm nặng hơn một tháng nay. Thấy con về, ngoại
hỏi mẹ đâu mà lâu rồi không về thăm ngoại. Con dối ngoại là mẹ bận nhiều việc
nên chưa về được. Bao nhiêu tiền con gởi ngoại bấy lâu nay vẫn còn nguyên.
Ngoại bảo ngoại không cần tiền. Ngoại để dành để cưới chồng cho con. Ngoại đưa
cho con cuốn nhật ký của mẹ mà con đã gởi cho ba đó. Ngoại khóc và bảo con giữ
cẩn thận để khi nào gặp ba thì đưa cho
ba. Đêm ấy, ngoại ra đi bỏ con lại một mình. Con lo mai táng cho ngoại và thuê người xây mộ cho ngoại giống như ngôi mộ của mẹ con vậy.
Con
đón xe về lại Thủ Dầu Một xem con ác thú đã đưa con vào chốn đường cùng còn
sống hay chết. Vẫn như mấy năm về trước, hắn lúc nào cũng khật khừ hơi men.
Thoáng thấy con, hắn cười nhăn nhở thật đáng ghét. Hắn lại quát:
- Con đĩ con kia, mày dấu con đĩ mẹ mày ở
đâu, mau đưa về đây không tao chém.
- Mẹ tôi đã
bị ông hại chết lâu rồi. Tôi cũng sắp chết đây. Tôi tưởng ông đã chết nhăn răng
từ lâu rồi chứ. Ai ngờ ông vẫn còn.
Hắn
chồm lên nhảy xổ vào con. Hắn lại dở trò ác thú. Bây giờ thì con không thèm
chống cự nữa. Con muốn hắn chết dần chết mòn trong cơn bệnh thế kỷ mà con đã gánh chịu.
Thỏa
mãn cơn dục vọng, hắn nằm nhoài ra giường thở như heo mắc dịch. Con đấm vào mặt
hắn một cú đấm trời giáng và bỏ đi...
Ba ơi, khi con cập kè tuổi ba mươi, nhan sắc đã
tàn tạ, người ta không cần con nữa. Hết tiền để thuê nhà trọ, con phải lang
thang ở những công viên, vườn hoa, góc tối. Con phải chạy tiền từng bữa để còn
dành cho những ngày bệnh tật.
Xin
lỗi ba, con đã làm ba buồn và lo lắng cho con. Nhưng không sao đâu ba. Người ta
ăn để sống chứ đâu phải sống để mà ăn. Có phải thế không ba?”
Tôi
bật nấc. Nước mắt tôi giàn giụa. Tôi vội đưa bức thư của Thiên Bình cho vợ rồi
chạy vào nhà trong. Tôi khóc. Trời ơi! Vì đâu mà hai mẹ con Trang lại phải gánh
chịu những nỗi đau nhục nhã thế này?
Tôi gọi điện cho tất cả bạn bè ở thành phố Hồ Chí Minh nhờ họ tìm kiếm Thiên Bình giúp. Bí Rợ và KC động
viên tôi yên tâm, họ sẽ chia nhau đi khắp mọi ngóc ngách của thành phố để tìm kiếm. Tôi bình tĩnh lại
và nhờ vợ tôi đọc tiếp.
“ Ba
ơi, có lẽ con sẽ không thể gặp mặt được ba đâu. Con mệt mỏi và yếu lắm rồi...”
Vợ tôi vừa đọc vừa như đánh vần.
Tôi sốt ruột giục: - Em không đọc được à? Đưa đây anh đọc cho.
Vợ tôi cau có: - Thư viết chữ
được chữ mất thế này làm sao mà đọc nhanh được.
Đúng thật! những dòng cuối của
thư hình như Thiên Bình không còn làm chủ được tay bút nên viết nghệch ngoạc và
mất từ khá nhiều. Hình như nó vừa viết vừa khóc dữ lắm.
Vợ trả lại bức thư cho tôi và
bảo: - anh đọc tiếp đi. Em cũng không cầm nổi nước mắt rồi đây này.
“ Sau hai năm con ghé nhà
tên Lãm và bị hắn giở trò đồi bại với con lần thứ hai ấy, hôm qua con lại ghé
vào nhà hắn. Khu nhà ấy đã sửa sang lại
thành trung tâm nuôi dạy trẻ lang thang cơ nhỡ. Các cô các chú làm việc ở đó
nói cho con biết Lãm đã mắc bệnh AIDS được đưa đi trung tâm điều trị. Ông ấy
đã tự nguyện hiến khu nhà này cho Trung
tâm bảo trợ xã hội tỉnh sau khi biết mình đã bị lây nhiễm và không thể sống
được nữa.
Ba ơi, ba đọc xong thư thì đốt đi nghe ba.
Đừng để ai đọc mà họ chê cười con hư đốn. Con mắc cỡ lắm. Ba cũng đừng tìm con
làm gì nữa. Con sẽ đi đến một nơi xa, xa lắm. Ở đó không ai biết con và con sẽ
ngủ một giấc thật dài.
Ba nhớ
giữ gìn sức khỏe và đừng giận con nghe
ba.
Vĩnh biệt ba!”
Vợ tôi òa khóc. Tôi cũng khóc theo.
*
* *
Tối
hôm sau, vợ chồng tôi đang ngồi xem TV thì Bí Rợ điện ra. Cô ấy nói đứt quãng
như vừa chạy thể dục vừa nói: - Anh Mèo ơi, ngày mai anh bay vào đây nghe. Có
tin tức của Bông Hồng Trắng rồi! Tôi vui mừng hỏi lại: - Thật không em? Ở đâu?
Em đưa cháu về nhà em và đừng cho nó đi đâu cả. Cố gắng giữ lại chờ anh vào
nhé.
Vợ tôi nhìn tôi và cười. Cô ấy bảo: - May rồi! Ngày mai lấy vé máy bay
cho cả em cùng đi anh nha.
Con gái tôi đang học bài trên gác cũng chạy
xuống: - Cả con nữa. Con cũng đi. Con muốn gặp chị Thiên Bình.
Tôi
gắt: - Không được, con còn học, ở nhà. Ba mẹ đi là được rồi.
-
Không, con đi. Con được nghỉ ôn thi một tuần. Cho con đi nghe ba.
- Tôi đành chấp nhận và bảo: -
Sáng mai con ra phòng vé lấy 3 vé bay chuyến sớm nhất.
Sáng hôm sau, con gái tôi từ phòng vé về mặt buồn thiu:
- Hết vé ba ơi. Ba ngày nữa mới đi được.
Thôi đành vậy. Tôi điện thông báo
cho Bí Rợ và KC là 3 ngày nữa tôi vào.
Chiếc máy bay của hãng Việt Nam
Ailine hạ cánh xuống sân bay Tân Sơn Nhất
17 giờ 30. Chiếc xe 7 chỗ ngồi
của công ty KC chờ sẵn chúng tôi ở đó. KC đưa chúng tôi về thẳng nhà Bí Rợ. Vừa
xuống xe, tôi hăm hở chạy vào nhà tìm gặp Thiên Bình mà quên cả chào hỏi chồng
Bí Rợ và rất nhiều bloger - bạn của tôi và Thiên Bình ở đó. KC chạy theo tôi
níu lại:
- Bình tĩnh nào, Mèo. Ngồi xuống đây đã.
Bí Rợ và chồng cô ấy cũng cầm tay
tôi kéo lại bàn và bảo ngồi uống nước đã.
Tôi sốt ruột hỏi: - Thiên Bình
đâu? Con gái tôi đâu?
- Anh chị và cháu cứ yên tâm ở
đây ăn cơm, ngủ nghỉ, sáng mai tất cả chúng tôi sẽ đưa gia đình anh chị đi gặp
cháu.
Đêm đó tôi và vợ tôi ngủ không yên giấc. Không biết có phải vì lạ nhà
hay vì mệt do đi máy bay. Con gái tôi sau khi
đi dạo phố cùng các bạn về cũng trằn trọc không ngủ được.
4
Lỗi hẹn
Một chiếc xe khách 45 chỗ mới tinh với giàn
lạnh mát rượi chở tất cả chúng tôi về Phước Long. Những con đường tôi từng đi
qua bây giờ khác nhiều lắm. Nhìn đâu tôi cũng thấy lạ. Đường vừa rộng vừa
phẳng. Hai bên đường, nhà cửa cao chọc trời. Những khu công nghiệp sầm uất rải
dọc theo đường đi. Xe máy, ôt tô đủ các loại ken kín cả chặng đường dài.
Tôi
hồi hộp và lâng lâng vì sắp được gặp đứa con gái yêu dấu của mình bao năm chưa
hề gặp. Vợ tôi lần đầu tiên đi xa nên háo hức nhìn cảnh vật hai bên đường theo
tay chỉ của các bạn trẻ.
Núi
Bà Rá mờ mờ hiện ra trước mắt. Tôi chỉ cho vợ tôi những căn cứ trước đây đơn vị
của chúng tôi đã giành giật từng, tấc đất, từng ngọn suối, từng gốc cây với
quân thù. Những kỷ niệm ngọt ngào ập đến trong tôi.
KC ngồi cạnh tôi, trầm ngâm. Suốt cả chặng
đường anh không nói gì cả.
Cậu
ta vỗ vai tôi và bảo: - Gần đến nơi rồi đó anh. Anh hãy hết sức bình tĩnh nghe
chưa? Anh mà nằm xuống đây là chúng tôi “bó tay chấm com” đó nha. Tôi ngờ ngợ
một điều gì đó rất tồi tệ sẽ đến với tôi. Tôi bấm tay KC: - Cậu yên tâm. Tớ đã
từng là lính B2 mà.
KC nhìn tôi: - Thế thì em yên tâm.
Xe đỗ trên đường cái. Cậu tài xế mở
nắp hậu cốp xe. Các bạn trẻ kéo ra những vòng hoa kết bằng hoa hồng trắng cùng
những bó hương to. Tôi nghe lạnh toát từ sống lưng lên gáy và loạng choạng. KC
và hai bạn trẻ chạy lại đỡ lấy tôi. Trước mắt tôi là ba ngôi mộ được xây y
chang nhau đứng thẳng hàng. Đầu tiên là mộ của Má Sáu, đến mộ Trang và cuối dãy
là mộ của Thiên Bình. Tôi đứng lặng. Cả ba ngôi mộ đều không có lấy một bức di
ảnh. Dưới bát hương nghi ngút khói của Trang là tờ giấy có dòng chữ lớn viết bằng
bút xạ: “MẸ ƠI,
CON ĐÃ TÌM ĐƯỢC BA ĐẺ CỦA CON RỒI”.
Vợ
và con gái tôi lấy khăn lau lên những phiến đá cẩm thạch mà sụt sùi.
Chúng
tôi đã đến chậm!
Mộ
của Thiên Bình được phủ lên mấy chục vòng hoa
kết bằng hoa hồng trắng với những chiếc băng vải in dòng chữ: “ Vĩnh
biệt Thiên Bình”. Con gái tôi thì trân trọng đặt lên đó vòng hoa có dòng chữ: “
Chị ơi, ba, mẹ và em gái chị đến với chị đây. Kính chúc chị bình yên”. Thì ra
tối qua, đi chơi với bạn bè, họ đã nói cho con gái tôi biết hết mọi chuyện nên
nó đã nhờ bạn đặt mua vòng hoa viếng Thiên Bình.
Tôi
cúi đầu, tay run run cắm nén hương lên mộ của má Sáu:
- Má ơi, con thật có lỗi với má và Trang. Con
thật tệ phải không má. Nơi chín suối, con cầu mong má bình yên và tha thứ cho
đứa con bất hiếu này.
Ngồi trước mộ Trang, tôi móc ví lấy tấm hình
em đã trao tôi vào cái hôm mà chúng tôi xé rào để phạm vào cái điều cấm kỵ. Bức
ảnh đã theo tôi gần 36 năm đã phai màu theo năm tháng. Dựng bức ảnh lên bia mộ,
tôi cầu mong em thanh thản và tha thứ cho tôi. Tôi đã có lỗi với em. Hình em trong bức ảnh trước mặt tôi nhìn tôi
mỉm cười như được gặp lại tôi sau bao năm xa cách đầy sóng gió. Hy vọng ở nơi
xa ấy, Trang sẽ hiểu hết hoàn cảnh của hai đứa sau ngày đất nước thống nhất.
Tôi cúi xuống thoa bàn tau thô ráp nhăn nheo
của mình lên phiến cẩm thạch trên mộ Thiên Bình và gọi: - Con gái yêu, ba đẻ
của con đã đến với con đây. Con đi nhanh quá nên ba vào không kịp. Đừng trách
ba nghe con. Ba thương con nhiều lắm.
Những giọt nước mắt của tôi rơi xuống tan
nhanh vào phiến đá. Bát nhang trên mộ Thiên Bình tự dưng bốc lửa cháy ngùn
ngụt. Hình như con gái tôi đã hiểu ra và thông cảm với nỗi đau xé lòng của tôi.
Vợ tôi, con gái tôi và tất cả bạn bè có mặt nhìn tôi và lấy tay lau nước mắt.
Tôi đưa bức ảnh của Trang nhờ KC mang về dùng
vi tính chỉnh sửa cho rõ và đem ra thợ khắc vào đá để gắn vào mộ.
Tất
cả chúng tôi một lần nữa cúi đầu vĩnh biệt Má, Trang và Thiên Bình rồi lên xe
về lại thành phố.
Trên xe, Bí Rợ kể cho chúng tôi nghe về sự
ra đi của Thiên Trang.
-
Trước khi đến
Bà Rá, Thiên Bình có gọi điện cho tôi và
bảo: “ Má ơi, con đi chơi xa một chuyến, nếu có gì
quan trọng, má chịu khó giúp con nghe má”. Nói xong, cháu cúp máy ngay, không
cho tôi nói lấy một lời. Tôi linh cảm có điều chẳng lành đến với cháu. Tôi vội
thông báo cho KC và các bạn bủa ra đi tìm. Lúc ấy cũng chính là lúc anh gọi cho
chúng tôi nhờ tìm giúp đó. Chúng tôi chia nhau đến các bệnh viện, các trung tâm
chữa trị HIV để tìm nhưng không có tăm hơi gì. Rồi vào cái tối cách đây bốn
hôm, chúng tôi vô tình mở đài truyền hình BP xem thì có thông báo tìm người
thân cho một cô gái ngoài 30 tuổi, cao một mét sáu lăm bị chết bên cạnh mộ Má sáu và bà Mai Trang dưới chân núi Bà Rá
chưa rõ nguyên nhân. Tôi điện ngay cho KC và một vài người bạn rồi tức tốc lên
Phước Long ngay trong đêm. Đến nơi tôi nhận ra đây chính là Thiên Bình – người
mà chúng tôi đang tìm kiếm. Công an điều tra ở đây lập biên bản và chuẩn bị mổ
tử thi nhưng chúng tôi xin không mổ. Tôi ký vào biên bản nhận cháu và sáng hôm
sau cùng với chính quyền địa phương khâm liệm và mai táng cho cháu. Bloger, bạn
của Thiên Bình đến từ biệt cháu đông lắm. Họ đề nghị được góp tiền để xây mộ
cho cháu giống như mộ mẹ và ngoại cháu.”
Tôi
bảo tài xế dừng xe và rủ KC xuống xe. Mọi người ngơ ngác không hiểu chuyện gì.
Tôi bảo mọi người cứ về trước đi, tôi và KC bắt xe ôm đến thẳng đài truyền hình
tỉnh. Tôi nhờ họ đăng giùm lời cám ơn của gia đình và bạn bè của Thiên Bình gửi
tới Công an, Đài truyền hình, chính quyền cùng nhân dân địa phương đã phát
hiện, thông báo và đã cùng bạn bè cháu đưa cháu đến nơi an nghỉ cuối cùng.
Chúng tôi lại đến Phòng cảnh sát điều tra Sở
công an để xin lỗi vì đã gây phiền phức cho họ. Đồng chí trưởng phòng thân mật
tiếp chúng tôi và gửi lời chi buồn tới gia đình. Anh ta đưa cho tôi lọ thuốc
seduxen chỉ còn lại năm sáu viên và bảo: - Chúng tôi tìm thấy lọ thuốc này bên
cạnh Thiên Bình. Hình như cháu đã uống rất nhiều thuốc ngủ này. Tôi cám ơn anh
và bắt tay anh thật chặt trước khi quay lại thành phố.
Tối hôm
ấy, gia đình tôi mời tất cả bạn bè của tôi, của Thiên Bình đến một quán ăn bình
dân trên đường Võ Văn Tần để nâng ly cám ơn
ơn họ - cám ơn những những người bạn bằng xương, bằng thịt mà trước đây
chúng tôi thường cho đây là những người bạn ảo đã vất vả vì gia đình tôi trong việc
tìm kiếm và lo cho Thiên Bình mồ yên mả đẹp.
Chúng tôi không ồn ào như những lần đi công
tác hay du lịch gặp nhau. Chúng tôi trao
nhau những cái nhìn thân mật, thông cảm và sự giúp đỡ nhau vô tư không hề toan
tính. Chúng tôi thật sự biết ơn họ.
Về đến
nhà, tôi mở máy vi tính và vào ngay trang blog của mình và viết: “ Cám ơn trang
Website... đã đưa tôi tìm đến đứa con gái của mình đã lưu lạc 34 năm nay. Cám
ơn các bloger - những người bạn chân tình nhất của tôi và con gái. Chính các
bạn đã làm vơi đi nỗi đau mất mát, vơi đi nỗi nhớ nhung xa cách mà chiến tranh
đã để lại cho chúng tôi. Các bạn đã giúp tôi vượt qua sự ân hận và mặc cảm vì
đã để vuột mất mối tình đầu trong sáng được nẩy nở trong chiến tranh.
Mai Trang ơi, anh triệu lần xin lỗi vì đã để em phải mỏi mòn vì tình yêu, đau khổ vì
tình yêu và phải ra đi khi chưa tìm thấy người mà em bao tháng năm chờ đợi. Cám
ơn em đã giúp anh vượt qua cái chết. Em đã giúp anh trí nhớ phục hồi và giúp
anh hiểu thế nào là sự chung thủy. Anh cám ơn mối tình đầu của anh. Em hãy tha
lỗi cho anh em nhé”
Dưới bài viết là những dòng thơ tôi viết cho
em – người mà tôi đã bỏ mặc em trong khổ đau:
“ LỖI HẸN
Em đừng giận bởi tim anh lỗi hẹn
Đừng trách anh sao nỡ vô tình
Thuyền đâu muốn thuyền dập dềnh trên biển
Để sóng xô trôi dạt một mình
Biển rộng quá thuyền anh thì quá nhỏ
Một mình anh chèo chống sao đành
Biển rộng quá thuyền anh đi chệch hướng
Lỗi hẹn rồi đừng giận nữa nghe em!”
Tôi có được may mắn là người vợ bây giờ - một
chiến sĩ quân y đã theo tôi từ bệnh viện
này đến bệnh viện khác để chăm sóc tôi. Vợ tôi cũng chính là điểm tựa cho tôi
vượt qua bệnh tật. Cô ấy đã yêu thương tôi ngay cả khi trí nhớ tôi đã biến mất.
Và bây giờ, cô ấy
luôn là người vợ hiền luôn bên tôi và cùng tôi sánh vai đi trên con đường hạnh
phúc mà chúng tôi đã giành cho nhau .
Viết tại Đà nẵng tháng 11 năm 2011
Đăng ký:
Bài đăng (Atom)







